Nắng lên chừng một sào, cái nóng hanh hao của vùng sông nước bắt đầu hầm hập đổ xuống lòng chợ nổi. Tiếng máy nổ chành bành, tiếng gọi nhau í ới vọng vang cả một khúc sông. Ngày hôm nay là ngày hội mua bán nông sản lớn nhất trong tháng, ghe xuồng đổ về đông như trẩy hội, mà cái bến neo đậu đẹp nhất ngay sát bờ chợ tỉnh, nơi có bóng râm rặng tre che mát, lại thuận tiện cho việc bốc dỡ hàng lên bờ thì chỉ có một.
Từ phía hạ nguồn, chiếc ghe bầu ba mui dũng mãnh của Cậu Hai Duy đang phành phành rẽ sóng lao tới. Duy một tay vịn gối chèo, chân kia gác lên mạn ghe, mắt nheo nheo nhìn cái khoảng trống lý tưởng bên bến chợ. Anh quay sang khoát tay với đám thuộc hạ: “Tụi bây chuẩn bị quăng dây neo! Chỗ đó khuất nắng, lúa của ông chủ Tây nằm đó tới chiều không sợ ẩm, không sợ lên mầm. Mau tay lên!”
Nhưng khi mũi ghe bầu của Duy chỉ còn cách bến chừng mười sải tay, thì từ phía cồn Tây, một chiếc ghe lườn chở đầy ắp xoài cát Hòa Lộc lướt tới nhanh như một mũi tên. Ở mui ghe, Cô Ba Ngọc bận bộ bà ba xanh ngọc bích, tay cầm cây sào tre dài, dứt khoát thọc mạnh xuống lòng sông để cản đà, đồng thời ép hông ghe mình che chình ình ngay trước mũi ghe của Duy.
“Khoan nghe cậu Hai! Bến này vựa cồn Tây tôi đã hẹn trước với ban quản lý chợ từ hôm qua rồi. Cậu tới sau thì chịu khó dạt ra phía ngoài nắng mà đậu nhen!” Ngọc chống sào, đứng thẳng lưng, giọng trong trẻo vang lên, lấn át cả tiếng máy nổ.
Duy giật mình, vội vàng bẻ lái gối cho ghe lùi lại một nhịp để tránh va chạm. Nhìn thấy bản mặt lanh lợi của Cô Ba Ngọc, anh tức cành hông nhưng cái miệng dẻo quẹo thì lập tức nảy số. Anh buông chèo, bước ra mũi ghe, cười khà khà: “Chu cha, tưởng ai, té ra là cô Ba Ngọc. Cô Ba nói vậy là hổng đúng lý hợp tình rồi. Sông này là sông chung, bến này là bến mở, ai tới trước thì đậu trước. Ghe tôi đã chúi mũi vô trước, cô lại ở đâu tạt ngang cướp đường, coi sao đặng? Hay là cô thấy tôi phong trần quá nên kiếm cớ ép sát để nhìn cho rõ mặt hả?”
Đám bạn ghe xung quanh nghe Cậu Hai chọc ghẹo liền cười rộ lên rần rần. Ngọc nghe vậy không mảy may chớp mắt, đôi lông mày phượng nhướng lên đầy sắc sảo: “Cậu Hai Duy bớt xài cái văn văn vở vở đó đi, nghe nổi da gà da vịt hết trơn hà. Tôi thèm nhìn cái mặt đầy bụi bặm của cậu chắc? Tôi nhắc cho cậu nhớ, luật chợ nổi quy định: ghe chở hàng tươi sống, mau hư rã như trái cây chín của tôi được ưu tiên lên bến trước. Ghe cậu chở lúa khô bọc bao kỹ lưỡng, đậu ngoài nắng thêm ba ngày ba đêm cũng chẳng sứt mẻ một hột. Cậu không nhường bến này cho tôi, lỡ xoài héo, cậu đền nổi không?”
Duy chắp hai tay sau lưng, thong thả bước qua bước lại trên mui ghe, cái miệng bén ngót đốp chát lại liền: “Cô Ba Ngọc tính toán rành rọt dữ nghen. Nhưng cô quên một điều, chuyến này tôi áp tải lúa cho thương gia ngoài miền, hợp đồng ký kết rõ ràng, trễ một khắc là đền tiền vàng lươn. Trái cây của cô mau hư, chứ uy tín làm ăn của đội ghe cồn Đông này quý như vàng mười. Một bên là trái cây héo có thể làm mứt, một bên là uy tín mất là mất luôn cái sản nghiệp. Cô Ba nghĩ coi cái nào nặng, cái nào nhẹ?”
“Cậu đừng có lấy hợp đồng ra hù tôi!” Ngọc chống nạnh, mắt phượng trợn lên, dậm chân đôi guốc xuống mạn ghe kêu cốp cốp: “Uy tín của cậu là vàng, vậy cái danh tiếng vựa nông sản giao hàng đúng giờ của cồn Tây tôi là đất sét chắc? Hôm nay tôi quyết không nhường đó, cậu làm gì tôi?”
“Hổng nhường chứ gì? Được thôi, vậy tụi mình thi coi ghe ai lì hơn!” Duy cười thách thức, ra lệnh cho người làm thả neo ngay tại chỗ, khóa chặt góc quay đầu của ghe Ngọc.
Ngọc cũng không vừa, cô ngoắc tay cho hai chiếc xuồng nhỏ của vựa mình chèo tới, đậu chặn bên hông ghe của Duy, tạo thành một cái thế gọng kìm tiến thối lưỡng nan.
Cả một khúc sông bỗng nhiên nghẹt cứng vì hai cái đầu “vừa bướng vừa khôn” này. Thương lái, bạn hàng đứng hai bên bờ chợ tỉnh tụ tập xem đông nghẹt, ai nấy đều lắc đầu cười khổ: “Hai cái đứa này, đúng là oan gia ngõ hẹp mà. Gặp nhau là long trời lở đất!”
Trận đấu khẩu, đấu trí kéo dài hơn nửa canh giờ đồng hồ. Duy dùng cái lý của kẻ đi đường dài, miệng lưỡi lắt léo hòng làm Ngọc nản chí. Ngọc dùng cái tình của dân bản địa, sổ sách luật lệ rành rọt ép Duy vào thế bí. Hai bên kèn cựa nhau từng tấc nước, ánh mắt nhìn nhau như muốn phóng ra lửa, nhưng trong lòng cả hai đều phải thầm kinh ngạc: đối phương quả thực quá thông minh, không có một sơ hở nào để bắt bẻ.
Cuối cùng, ông quản lý chợ nổi phải chèo xuồng ba lá ra phân xử, chia đôi cái bến đẹp ra mỗi bên neo một nửa, cuộc chiến mới chịu tạm dừng.
Lúc hai chiếc ghe áp mạn vào bến, khoảng cách chỉ cách nhau chưa đầy hai sải tay. Duy đứng trên mui, lau mồ hôi trán, nhìn sang Ngọc đang chỉnh lại cây trâm gỗ trên tóc, anh nói vói qua, giọng nửa đùa nửa thật: “Cô Ba Ngọc nè, cái nết cô dữ dằn dị, sau này ai mà xui xẻo cưới trúng cô chắc ngày nào cũng lội sông tự tử quá.”
Ngọc liếc anh bằng nửa con mắt, hứ một tiếng rõ to: “Cậu Hai Duy lo cho cái thân cậu trước đi. Cái miệng dẻo như kẹo kéo của cậu, con gái xứ này nghe xong chạy mất dép hết trơn rồi. Ai cưới trúng cậu chắc ba ngày tổn thọ mười năm!”
Nói đoạn, cả hai cùng quay ngoắt mặt đi hai hướng khác nhau. Ai dè đâu, cái câu khẩu nghiệp “ai cưới trúng ai” của ngày hôm nay, sau này lại vận thẳng vô cái số phận của hai người, chạy đằng trời cũng không khỏi nắng.