Mưa lũ vùng biên thùy vừa rút, nắng tháng Năm bắt đầu hanh hao đổ xuống những rặng tre xanh bờ rạch. Thế nhưng, cái nắng rực rỡ của đất trời chẳng thể xua đi bầu không khí ảm đạm, ngột ngạt đang bao trùm lên ngôi nhà ba gian của ông giáo Nguyễn.
Chuyện Thảo My và cậu Ba Lâm Gia Huy mất tích hai ngày một đêm giữa trận lũ dữ vùng Bảy Núi nhanh chóng trở thành miếng mồi ngon cho những kẻ rảnh rỗi khắp các bến đò, chợ huyện. Qua những cái miệng điêu ngoa, ác ý, chuyến lội rừng tìm thuốc cứu người cao đẹp bỗng chốc bị nhào nặn, bóp méo thành một câu chuyện phong tình tục tĩu.
Nơi quán nước đầu sông, người ta kháo nhau ầm ĩ: “Chu choa mạ ơi, tụi bây nghe tin gì chưa? Con nhỏ Thảo My con ông giáo Nguyễn, mang tiếng là đi bốc thuốc, té ra là bày mưu tính kế gài bẫy cậu Ba nhà họ Lâm. Hai đứa nó trót ở đêm với nhau trong cái lều hoang trên núi tận một đêm trắng kìa! Gái chưa chồng, trai dặm ngàn, ở chung một mái nhà tranh dột nát giữa rừng sâu nước độc, không làm chuyện mèo mả gà đồng thì mới là chuyện lạ!”
“Bởi vậy tai tiếng lan nhanh như vết dầu loang! Người ta bảo cô lái thuốc trót trao thân cho thiếu gia để mong đổi đời làm bà Lớn hào môn rồi. Đúng là nhà dột từ nóc, uổng công ông giáo rước chữ nghĩa thánh hiền về dạy dỗ!”
Những lời nhuốc nhơ ấy như những mũi dao tẩm độc, theo gió bay qua giậu mồng tơi, lọt thẳng vào gian nhà chính nơi ông giáo Nguyễn đang ngồi vấn thuốc.
Trong nhà, ông giáo Nguyễn ngồi tựa lưng bên chiếc bàn gỗ trắc cũ kỹ. Trên bàn, chén nước trà xanh đã nguội ngắt từ bao giờ. Nghe bà tư bán cá đầu xóm sang “vô tình” kể lại những lời đàm tiếu ngoài chợ, ông giáo Nguyễn lặng người đi, toàn thân bất động như một pho tượng đá.
Chiếc tẩu thuốc trên tay ông run lên bần bật rồi rơi xuống nền đất kêu một tiếng “bạch” khô khốc. Gương mặt già nua, phúc hậu bấy lâu nay bỗng chốc tái mét, những nếp nhăn hằn sâu trên vầng trán nho nhã co rúm lại vì một nỗi đau đớn và nhục nhã tột cùng. Là một nhà nho cả đời trọng danh dự, xem khí tiết và lòng tự trọng cao hơn mạng sống, ông làm sao chịu nổi cái cảnh đứa con gái độc nhất, niềm tự hào vẹn toàn của ông, bị người đời chà đạp, bôi nhọ bằng thứ ngôn từ rẻ rúng của hạng chợ búa.
Thảo My vừa bước vào sân, trên tay vẫn ôm chiếc giỏ mây đựng củ tía tô đất hoang quý giá vừa hái được. Thấy sắc mặt thầy mình như tro tàn, cô hoảng hốt buông giỏ thuốc, lao đến quỳ sụp dưới chân ông: “Thầy! Thầy sao vậy thầy? Trong người thầy không khỏe chỗ nào sao?”
Ông giáo Nguyễn nhìn đứa con gái. Tà áo bà ba trắng của cô dẫu đã được giặt sạch sau đêm mưa lũ nhưng vẫn còn vương những vết sờn rách của gai rừng, gương mặt cô hốc hác vì mệt mỏi. Ông thấy rõ sự trong sạch, ngay thẳng trong đôi mắt trong veo của con, nhưng miệng đời ngoài kia đâu có cần sự thật. Chúng chỉ cần một cái cớ để dìm một nhành cỏ dại xuống bùn đen.
“My à…” Giọng ông giáo khàn đặc, nghẹn ngào như có tiếng khóc u uất từ sâu trong lồng ngực: “Con đi tìm thuốc cứu người… sao người ta lại nỡ lòng nào bôi tro trát trấu vào cái danh tiết của con, vào cái bảng chữ Nho của dòng họ Nguyễn mình như vậy hở con?”
Hai giọt nước mắt già nua, mặn chát lăn dài trên gò má đồi mồi của người cha già hiền triết. Ông đau không phải vì trách con, mà ông đau vì sự bất công của miệng đời thế gian, vì cái hố sâu giai cấp quá nghiệt ngã. Một khi đã dính dáng đến chốn hào môn nhà họ Lâm, thì sự thanh cao của con gái ông cũng biến thành thứ tâm cơ dơ bẩn trong mắt người đời.
Nhìn giọt nước mắt của cha, Thảo My như rụng rời tay chân. Cô không khóc trước sự sỉ nhục của Hồng Diễm, cô không sợ hãi trước thác lũ Thất Sơn, nhưng lúc này, trước nỗi nhục nhã của người cha kính yêu, trái tim cô gái miệt vườn như bị bóp nghẹt, rỉ máu. Định kiến xứ sở và lòng đố kỵ của người đời đã chính thức dựng lên một bản án bất công, đẩy mối tình chớm nở giữa cô và Gia Huy vào một bức tường ngăn cách tột cùng của sự cay đắng.