“Bác Lý nói đúng ạ. Chúng cháu từ thành phố về nông thôn đã xác định phải chịu khổ để rèn luyện. Có chỗ nghỉ ngơi như thế này là tốt lắm rồi. Ngày mai chúng cháu sẽ tự quét dọn, sửa sang lại.”
Lý Đại Phú hừ nhẹ một tiếng, sắc mặt lúc này mới dịu đi đôi chút. Ông đặt chiếc đèn dầu hỏa cũ lên mặt bàn gỗ, rồi tiếp tục nói về những quy định trong thôn:
“Đại đội sản xuất chúng tôi tính công theo điểm. Một ngày công của lao động chính được mười điểm. Thanh niên tri thức mới xuống, chân yếu tay mềm, cao nhất chỉ được sáu hoặc bảy điểm, còn phải tùy vào lượng công việc hoàn thành. Cuối năm, đại đội sẽ căn cứ vào tổng số điểm công tích lũy để chia lương thực và tiền mặt.”
Ông dừng lại, đưa mắt nhìn cả bốn người rồi nói tiếp:
“Tối nay đại đội cấp tạm cho mỗi người nửa cân bột ngô thô với hai củ khoai lang để nấu bữa tối. Từ ngày mai trở đi, chuyện ăn uống các cô cậu tự lo liệu. Bếp nấu ở phía sau nhà.”
Nói xong, ông lấy từ chiếc giỏ tre mang theo ra bốn túi giấy dầu nhỏ, bên trong đựng bột ngô vàng ươm nhưng lẫn đầy vỏ trấu, cùng mấy củ khoai lang nhỏ nhíu. Ông đặt tất cả lên bàn rồi quay người đi ra ngoài cửa.
“Ngủ sớm đi. Sáng mai sáu giờ có tiếng kẻng tập trung ngoài sân phơi lúa. Ai đến muộn sẽ bị trừ hai điểm công.”
Bóng dáng Lý Đại Phú cùng ngọn đèn bão dần khuất sau màn sương đêm. Trong căn phòng chật hẹp chỉ còn lại ánh đèn dầu leo lét, thứ mùi dầu hỏa nồng hắc quẩn quanh khiến người ta càng thêm khó chịu.
Lâm Tuyết ngồi phịch xuống chiếc hòm gỗ, kéo tay áo lau nước mắt đang lem nhem trên mặt, giọng nói nghẹn ngào:
“Nửa cân bột ngô mà lẫn cả đống trấu thế này thì làm sao mà nuốt nổi? Ở nhà tôi chưa bao giờ phải ăn thứ cám lợn này.”
Hai cậu thanh niên nhìn nhau, chỉ biết thở dài.
Người còn lại tên Triệu Cương. Từ lúc xuống xe đến giờ, cậu ta gần như chẳng nói câu nào, chỉ lặng lẽ xách túi đồ đi về phía góc phản, lấy khăn tay phủi từng chút bụi bặm trên lớp rơm khô.
Cố Thanh Dao không tham gia vào lời than vãn của bọn họ. Cô bước đến bên bàn, cầm lấy phần bột ngô cùng mấy củ khoai lang của mình, ánh mắt nhanh chóng đảo quanh căn phòng để quan sát.
Chiếc phản gỗ dài kê sát bức tường phía trong nhìn có vẻ kín gió và ấm áp hơn, nhưng lại nằm ngay cạnh đống rơm ẩm, rất dễ có rệp hoặc bọ chét. Góc đối diện, gần cửa sổ, tuy có gió lạnh lùa qua những khe nứt, nhưng nền lại khô ráo. Hơn nữa, từ vị trí ấy còn có thể nhìn thẳng ra con đường mòn chạy về phía tây ngôi làng.