Tôi và Holmes ghé vai vào chiếc bệ đá cẩm thạch đen nặng trịch. Với một tiếng nghiến ken két khô khốc vang lên trên nền gạch lát, chiếc bệ nhích dần sang một bên, tiết lộ khoảng sàn nhà vốn bị nó che khuất suốt nhiều thập kỷ qua.
Lestrade tiến lại gần, hai mắt ti hí nheo lại vẻ ngờ vực. Nhưng ngay khi chiếc bệ dịch chuyển hết cỡ, một tiếng ồ kinh ngạc đồng thanh vang lên từ cả Lestrade và Ronald Pendelton.
Nằm ngay dưới vị trí nguyên bản của chiếc bệ đá là một tấm kim loại hình vuông, cỡ bằng một chiếc đĩa ăn, được gắn bằng phẳng vào sàn nhà gỗ sồi. Ở trung tâm tấm kim loại đó không phải là một ổ khóa, mà là một tay cầm kim loại dạng chìm có hình bán nguyệt, cùng một lỗ nhỏ đường kính chỉ bằng một đầu đũa.
“Một lối đi ẩn!” Lestrade thốt lên, mặt gã đỏ bừng vì sượng sùng. “Trời đất ơi, làm sao một lối đi ngầm lại nằm ngay dưới chiếc bệ đá cẩm thạch nặng cả trăm cân thế này?”
“Sức nặng của chiếc bệ đá chính là ổ khóa ngụy trang hoàn hảo nhất, thưa Thanh tra.” Holmes nói, giọng anh trầm xuống, đầy vẻ tán thưởng một trí tuệ tội phạm xuất sắc. “Không kẻ đột nhập thông thường nào đủ thời gian đẩy chiếc bệ đá nặng hàng trăm cân này ra để đi qua lối này mà không gây ra tiếng động lớn. Nhưng hung thủ đêm qua… Hắn không cần đẩy chiếc bệ.”
“Sao cơ?” Tôi kinh ngạc hỏi. “Nếu không đẩy chiếc bệ, làm sao hắn chui qua lối này được?”
“Hắn không chui qua.” Holmes đáp, cúi gập người xuống soi kính lúp vào lỗ nhỏ cạnh tay cầm kim loại. “Hắn chỉ sử dụng lối này để kích hoạt một cơ chế.”
Holmes cẩn thận dùng chiếc panh y tế trong túi đồ nghề của anh, gắp ra từ bên trong lỗ nhỏ đó một đoạn dây cáp thép cực kỳ mảnh – mỏng hơn cả một sợi dây đàn violin – đã bị đứt ngang, đầu dây vẫn còn dính một chút mỡ bôi trơn công nghiệp.
“Hãy xâu chuỗi mọi sự việc lại xem nào, Watson.” Holmes đứng dậy, đôi mắt lóe lên tia sáng suy luận sắc lẹm. “Hãy hình dung khung cảnh đêm qua: Sir Arthur ngồi làm việc tại bàn. Hung thủ không hề bước vào phòng từ cửa chính hay cửa sổ. Hắn là một người quen, hoặc ít nhất là một người được Sir Arthur tin tưởng đón tiếp từ trước tám giờ tối – thời điểm cánh cửa gỗ sồi được chốt bên trong.”
“Nhưng ông Giles nói chú tôi ở một mình trong phòng từ tám giờ tối!” Ronald cắt lời.
“Người quản gia già của ngài có thể đã không nhìn thấy hung thủ ẩn nấp từ trước.” Holmes giải thích. “Hung thủ đã hạ độc Sir Arthur bằng thuốc phiện đậm đặc pha trong trà hoặc rượu – chiếc lọ rỗng trên sàn chính là bằng chứng. Khi thuốc độc bắt đầu ngấm, Sir Arthur nhận ra mình bị đánh đẫm. Trong cơn hoảng loạn và giằng co tuyệt vọng, ông làm đổ đồ đạc – tạo ra tiếng động lớn mà ông Giles nghe thấy lúc mười một giờ bốn mươi lăm phút. Hung thủ rút một lưỡi dao mỏng, đâm một nhát chí mạng vào tim Sir Arthur để dứt điểm, rồi lấy đi chiếc hộp Pandora.”
“Nhưng còn việc thoát ra ngoài?” Lestrade chen vào, mồ hôi rịn ra trên trán gã. “Cửa vẫn khóa trong mà!”
“Đó chính là chỗ tinh vi của vụ án này!” Holmes nhấn mạnh. “Hung thủ cướp chiếc hộp Pandora, bước ra khỏi phòng bằng cửa chính, sau đó khóa cửa lại từ bên ngoài.”
“Không thể nào!” Ronald kêu lên. “Chốt sắt bên trong rất to, và chúng tôi phải phá cửa mới vào được. Chốt rõ ràng đã gài từ bên trong!”
“Đúng vậy, chốt đã gài từ bên trong, nhưng là do cơ chế dây cáp này gài giúp hung thủ!” Holmes chỉ vào đoạn dây thép nhỏ. “Hung thủ luồn sợi dây thép mảnh này qua khe cửa dưới sàn, nối với chốt cửa bên trong. Khi hắn bước ra ngoài, đóng cửa lại, hắn chỉ cần đứng ở hành lang kéo mạnh sợi dây thép. Chốt cửa bên trong sẽ bị gạt đóng lại! Sau đó, hắn dùng lực giật đứt sợi dây thép rút ra ngoài. Mảnh chì hàn mà tôi tìm thấy dưới gầm bàn chính là điểm nối tự chế của sợi dây đó bị đứt vỡ ra khi bị lực giật quá mạnh!”
Tôi nín thở trước lời giải thích hoàn hảo của Holmes. Căn phòng kín tưởng chừng như ảo thuật của Lestrade chỉ trong chớp mắt đã bị bóc tách thành một trò mạo hiểm cơ khí chính xác.
“Trời Phật ơi…” Lestrade lẩm bẩm, mặt cắt không còn một giọt máu. “Vậy còn cái lỗ dưới chiếc bệ đá này?”
“Cái lỗ này.” Holmes trầm ngâm, cúi xuống nhìn tấm kim loại dưới sàn. “Chính là nơi sợi dây cáp thứ hai đi xuống hệ thống ống dẫn ngầm của dinh thự. Hung thủ là một kẻ am hiểu tường tận về cấu trúc kiến trúc của căn nhà này. Hắn không chỉ dàn dựng một vụ tự sát giả, mà còn cố tình để lại những manh mối giả như cửa sổ đóng kín để đánh hướng điều tra của Scotland Yard vào một ngõ tịt.”
Holmes bước trở lại bàn làm việc, nhìn xuống ba ký tự Hy Lạp bằng máu đã khô:
Θ Ι Λ
“Sir Arthur là một nhà mật mã học thiên tài.” Holmes nói, giọng đầy vẻ kính trọng đối với nạn nhân. “Khi biết mình không thể sống sót và nhận ra chiêu trò phòng kín của hung thủ, ông đã không lãng phí những giây phút cuối cùng để viết tên kẻ sát nhân – một kẻ chắc chắn đang dùng danh tính giả. Ông đã dùng máu của mình để để lại chìa khóa giải mã bí mật.”
“Ý ông là ba chữ cái này là một mật mã?” Ronald hỏi.
“Không chỉ là mật mã, mà là điểm bắt đầu của một chuỗi manh mối.” Holmes đáp. “Theta, Iota, Lambda… Trong hệ thống chữ số cổ Hy Lạp, chúng đại diện cho các con số: 9, 10, và 30.”
“9, 10, 30?” Tôi lặp lại. “Nó có nghĩa là gì? Một ngày tháng? Hay một mốc thời gian?”
“Hoặc là một vị trí.” Holmes hạ thấp giọng, đôi mắt anh nhìn thẳng ra ngoài ô cửa sổ Gothic, nơi dòng sông Thames đục ngầu đang cuộn chảy dưới màn sương mù. “9, 10, 30… Đó là tọa độ đường kinh tuyến và vĩ tuyến thu nhỏ trên bản đồ tác chiến của Bộ Ngoại Giao, hoặc… Là số phòng tại một nơi mà Sir Arthur thường xuyên lui tới.”
Holmes bất ngờ quay sang người quản gia già Giles, người đang đứng run rẩy ở cửa phòng:
“Ông Giles! Cho tôi biết, ngoài Bộ Ngoại Giao và dinh thự này, Sir Arthur thường dành thời gian ở đâu nhất khi ở Luân Đôn?”
Người quản gia già giật mình, ấp úng đáp:
“Thưa… Thưa ông, Sir Arthur hầu như tuần nào cũng ghé qua Câu lạc bộ Diogenes trên đường Pall Mall. Ông ấy có một phòng đọc sách riêng ở đó… Phòng số 9, tầng 10… À không, phòng 9 phân khu 10, dãy 30!”
Holmes vỗ mạnh hai tay vào nhau, tiếng kêu vang xa trong căn phòng tĩnh mịch.
“Tuyệt vời! Watson, vụ án này đang di chuyển với tốc độ nhanh hơn tôi tưởng. Hung thủ đã có chiếc hộp Pandora, nhưng hắn chưa thể mở nó nếu không có bảng trục xoay mật mã cuối cùng – thứ mà tôi cá là Sir Arthur đã cất giấu tại Câu lạc bộ Diogenes!”
“Vậy chúng ta phải đến đó ngay lập tức!” Tôi nói, tay siết chặt cây gậy chống.
“Đúng vậy.” Holmes quay sang Lestrade, người vẫn đang đứng ngơ ngác. “Lestrade, anh hãy cho phong tỏa dinh thự này, giữ nguyên hiện trường. Và đặc biệt, hãy kiểm tra danh sách tất cả những người thợ cơ khí đã từng sửa chữa hệ thống đường ống hoặc khóa cửa tại đây trong vòng sáu tháng qua. Kẻ đứng sau vụ này không phải là một tên trộm thông thường, mà là một kẻ phản bội có học thức cao.”
Holmes khoác lại chiếc áo măng tô, đội chiếc mũ lưỡi trai đặc trưng lên đầu rồi ra hiệu cho tôi và Ronald:
“Đi thôi, Watson! Rời khỏi Richmond ngay. Trận chiến thực sự cho mật mã Gió Nam không nằm ở đây, mà sắp diễn ra ngay tại trái tim của Luân Đôn!”