Đến nội dung chính

Chương 46: Cố vật nhà ta! (2)

admin 883 Chữ Cài Đặt

Mọi người đều ngơ ngác. Chẳng ai ở đây từng đọc Kinh Thi, cũng không hiểu Vương Dương đang ngâm nga điều gì, nhưng nghe ra là thơ thì vẫn nhận biết được. Chỉ có điều âm điệu ấy thật lạ tai, khác hẳn cách nói năng thường ngày.

Đỗ Tam gia chau mày hỏi: “Ngài có ý gì?”

Vương Dương không buồn đáp, chỉ tiếp tục ngâm: “Theo Tôn Tử Trọng, dẹp Trần bình Tống. Không cho ta về, lòng buồn canh cánh.”

Đỗ Tam gia vốn là người từng trải, nghe thấy âm điệu của Vương Dương có giọng mũi nặng, âm tiết kéo dài, dường như có phần giống giọng phương Bắc.

“Nó ở nơi đâu? Mất ngựa chốn nào? Tìm nó nơi đâu? Ở dưới bìa rừng.”

Vương Dương càng ngâm càng hứng, giữa những âm thanh vang vọng, đanh thép, mọi người dần cảm nhận được một chút nhịp điệu của thơ ca. Khi họ đang chăm chú lắng nghe thì tiếng ngâm thơ bỗng ngưng bặt.
Mọi người sửng sốt nhìn Vương Dương. Hắn quay sang Đỗ Tam gia, hỏi: “Hiểu chưa?”

Đỗ Tam gia ngơ ngác: “Cái này… hiểu cái gì?”

Vương Dương lộ vẻ kiêu ngạo: “Đây là “Lạc Sinh Vịnh”, là âm chuẩn của Trung Nguyên! Từ khi Ngũ Hồ loạn Hoa, giới sĩ tộc áo mũ xuôi Nam, người có thể ngâm được giọng này chẳng còn bao nhiêu. Sĩ tộc Giang Nam tuy đông, nhưng cũng chỉ biết nói “Ngô ngữ” mà thôi! Còn ta, đây là gia học của nhà ta, có gì khó đâu?”

Sĩ tộc Nam triều chia làm hai nhóm. Một là các vọng tộc Trung Nguyên di cư từ phương Bắc sau loạn Ngũ Hồ, sống ở Giang Nam nên được gọi là “Kiều tính”. Ví như Lang Gia Vương thị, Trần Quận Tạ thị, đều là đại diện tiêu biểu của Kiều tính.

Nhóm còn lại là các gia tộc bản địa đã định cư ở Giang Nam từ thời Đông Ngô, được gọi là “Ngô tính”.
Trong nội bộ sĩ tộc luôn tồn tại một tầng khinh thị, tức là Kiều tính coi thường Ngô tính. Họ không chỉ xem nhẹ huyết thống, văn hóa, học vấn của Ngô tính, mà cả cách nói năng cũng chẳng ưa. Vì thế, dù sống lẫn lộn qua nhiều đời, vẫn có không ít cựu tộc Trung Nguyên cố chấp giữ giọng Bắc, không muốn bị Ngô ngữ đồng hóa.

Tuy nhiên, theo thời gian, việc pha trộn giữa giọng Nam và Bắc là điều khó tránh khỏi. Trong dòng chảy ấy, “Lạc Sinh Vịnh” dần trở thành một “kỹ nghệ” đặc biệt.

“Lạc Sinh Vịnh” là cách phát âm nhã nhặn, chuẩn mực mà các thái học sinh ở Lạc Dương dùng để ngâm đọc kinh thư Nho gia trước thời Đông Tấn. Con em sĩ tộc bình thường không biết, chỉ những nhà Kiều tính cao môn, có gia học chính thống và truyền thừa lâu đời mới có thể dạy dỗ ra những đứa trẻ biết “Lạc Sinh Vịnh”.
Vương Dương dĩ nhiên không xuất thân từ dòng dõi cao môn, nhưng hắn lại được rèn luyện theo phương pháp học thuật hiện đại. Học giả Trần Dần Khác từng chỉ ra trong cuốn Từ sử thực luận “Thiết Vận” rằng vần thư Thiết Vận thời Tùy chính là đại diện cho hệ thống âm cũ của Lạc Dương trước khi nhà Đông Tấn dời đô về phương Nam. Cái gọi là “âm cũ Lạc Dương” chính là âm đọc của “Lạc Sinh Vịnh”.

Vì vậy, “Lạc Sinh Vịnh” mà Vương Dương đang ngâm thực ra dựa vào cuốn Thiết Vận – một tác phẩm vẫn chưa xuất hiện ở thời điểm này. Tuy không thể tái hiện hoàn toàn âm Lạc Dương nguyên bản, nhưng cũng không khác biệt là bao.

Một phần vì thời đại cách biệt quá xa, giọng Bắc truyền lại đã không còn thuần chính. Phần khác là vì bản thân “Lạc Sinh Vịnh” vốn khó tìm được người ngâm đúng chuẩn. Huống hồ, Đỗ Tam gia đâu phải bậc thầy âm vận, cũng chẳng phải con cháu đại tộc Kiều tính, làm sao phân biệt được thật giả?

Tuy vậy, gã từng nghe giọng phương Bắc, cũng từng nghe nói về việc các sĩ tộc Kiều tính tôn sùng cái gọi là “chính thanh Trung Nguyên”, nên vẫn bị màn “ngâm thơ biểu diễn” của Vương Dương làm cho chấn động.

Điều quan trọng hơn cả là:

Cái kiểu đang thương lượng mà bỗng dưng ngâm thơ, coi cả sảnh đường như chỗ không người này, đúng là khí chất của đại sĩ tộc, mẹ nó chứ!

Chú thích: Dùng “Lạc Sinh Vịnh” để hù dọa thiên hạ không phải là chiêu trò riêng của Vương Dương. Năm xưa, khi Hoàn Ôn bày Hồng Môn Yến, cho binh lính mai phục để đe dọa quần thần, Tạ An đã ngâm Lạc Sinh Vịnh ngay tại chỗ. Hoàn Ôn “sợ cái khí phách khoáng đạt của ông, bèn vội cho lui quân.” (Thế Thuyết Tân Ngữ – Nhã Lượng). Hay như trong Nam Tề Thư, kể rằng bọn man di định giết Trương Dung để ăn thịt, Trương Dung liền ngâm Lạc Sinh Vịnh. Đám giặc thấy lạ, nên tha mạng cho ông. Cũng là một ví dụ điển hình.