Cái nắng tháng Giêng, tháng Hai năm 2003 càn quét qua cù lao xóm Lưới bằng một sức mạnh hủy diệt. Đỉnh điểm của mùa khô miền Tây hiện rõ mồn một trên từng thớ đất dốc chân đê. Con lộ đất nện trước nhà nội Triết giờ đây mỗi lần có chiếc xe lôi hay xe ôm chạy qua là bụi cuốn lên mù trời, đỏ quạch, bám một lớp dày cộm trên những bụi dâm bụt, chè tàu xơ xác.
Dưới bến sông Tiền, dòng nước phù sa mọi khi ngọt lịm nay đã bị vị mặn chát của biển theo thủy triều xâm nhập sâu vào nội đồng. Nước sông quánh lại, đặc sệt và có mùi hăng hắc của rong rêu chết cháy. Cõi bờ cù lao rơi vào một cơn khát ngặt nghèo.
Trước sân nhà nội Triết, ba chiếc lu khạp da bò khổng lồ, loại khạp gốm Lái Thiêu tráng men vàng nâu lên nước bóng loáng, báu vật chuyên dùng để trữ nước mưa ăn uống của cả nhà, giờ đây đã rơi vào tình trạng báo động đỏ.
Anh bước lại gần chiếc lu lớn nhất nằm ngay dưới máng xối hàng ba. Chiếc gáo dừa gác trên nắp vỉ tre khô khốc, cong vênh lên vì sức nóng của mặt trời. Anh kiễng chân, ghé mắt nhìn vào trong lòng lu.
Lớp men da bò bên trong khạp vốn dĩ phải mát rượi, nay sờ vào nóng ran như một lò nung. Dưới đáy lu chỉ còn lại một vũng nước nhỏ xíu mờ đục, vài con lăng quăng bơi lội một cách tuyệt vọng. Hai chiếc khạp bên cạnh cũng đã cạn kiệt từ tuần trước. Mẹ Triết đã phải dùng đến những giọt nước mưa tiết kiệm cuối cùng để nấu ấm nước chè xanh cho nội và sắc thuốc nam cho ba.
“Trời hạn kiểu nầy chắc cháy lá dừa hết quá anh Ba ơi. Kiểu nầy dừa rụng, thương lái nó ép giá chết mẹ mình luôn.” Ba Triết đứng ngoài hiên, tay cầm chiếc gáo dừa không, mắt đăm đăm nhìn lên bầu trời xanh ngắt không một gợn mây, thở dài thườn thượt.
Bà nội ngồi trên bộ ván gõ, vạt áo bà ba sờn vai ướt đẫm mồ hôi. Nội đưa tay quẹt ngang khóe miệng dính nước trầu đã khô khốc, giọng thều thào vì mệt: “Thôi lo un khói mấy gốc dừa đi con, cầu trời cho qua rằm tháng Hai có trận mưa giông cho dịu đất, chứ nắng kiểu nầy người già còn chịu không thấu nói chi cây cối.”
Linh hồn ba mươi tuổi của anh, gã cựu kỹ sư công nghệ năm 2026, đứng giữa cái nắng như thiêu như đốt mà lòng ngổn ngang trăm mối. Ở tương lai, biến đổi khí hậu và hạn mặn miền Tây đã trở thành một bài toán thế kỷ có hệ thống cống đập ngăn mặn, có nhà máy lọc nước lợ và những chiếc bồn chứa nước bằng inox dung tích hàng ngàn lít. Người ta chỉ cần vặn vòi là có nước sạch tinh khiết xài xả láng.
Làm sao cái thế giới hiện đại đó hiểu được cái cảm giác thiêng liêng, cái sự mong chờ khắc khoải của người nông dân năm 2003 đối với một giọt mưa giông? Nước mưa thời nầy chính là mạch máu, là nguồn sống duy nhất duy trì sự tồn tại của cả nếp nhà lá nầy.
Anh không chịu khoanh tay đứng nhìn cả nhà chịu khát. Áp dụng tư duy lý tính và kiến thức về Kỹ thuật thu nước và ngưng tụ bề mặt, Triết bắt tay vào hành động. Anh dắt thằng Tèo và thằng Hùng “Biện” ra vuông đất trống sau hè, tìm chiếc bạt ni-lông cũ dùng để che bọc chuối ngày trước.
“Đại ca làm cái trò gì giữa trưa nắng bể đầu nầy vậy?” Thằng Tèo vừa lấy cạp quần sọt quạt phành phạch vừa hỏi, quả đầu khét nắng của nó đổ mồ hôi ròng ròng.
“Chế tạo Hệ thống chưng cất nước mặt bằng năng lượng mặt trời.” Anh thong thả đáp, quả đầu ba phân binh nghiệp nghênh lên đầy quyết đoán.
Anh đào một cái hố sâu khoảng nửa mét ngay khoảng đất trống. Ở giữa hố, anh đặt một chiếc ca nhựa sạch. Xung quanh chiếc ca, anh rải những bụi cỏ tươi, lá dừa nước còn chút hơi ẩm bứt ngoài bờ rạch. Kế đến, anh phủ tấm bạt ni-lông kín miệng hố, dùng đất chặn xung quanh để giữ nhiệt, rồi đặt một viên đá nhỏ ngay tâm tấm bạt, chính diện phía trên chiếc ca nhựa.
“Nhìn kỹ đi.” Anh chỉ tay vào hệ thống thô sơ cho hai đứa đệ tử: “Sức nóng của mặt trời sẽ làm hơi nước từ đất và lá cây bốc hơi lên, ngưng tụ dưới mặt tấm bạt ni-lông. Nhờ viên đá làm nghiêng bạt, nước sạch sẽ chảy theo độ dốc nhỏ giọt thẳng vào chiếc ca phía dưới. Đây là nước tinh khiết 100%, uống được!”
Thằng Tèo và thằng Hùng ngơ ngác nhìn cái hố phủ bạt, nửa tin nửa ngờ nhưng ánh mắt đầy sự sùng bái đối với vị đại ca lớp 3A.
Đến bốn giờ chiều, anh quay lại kiểm tra “công trình”. Khi lật tấm bạt ra, bên trong chiếc ca nhựa quả nhiên đã tích tụ được gần một đốt ngón tay nước trong vắt, mát rượi. Số nước nầy tuy không thấm tháp vào đâu so với nhu cầu của cả nhà, nhưng nó là một kỳ tích điện biên giữa mùa hạn mặn.
Anh bưng chiếc ca nước vô nhà, kính cẩn dâng lên cho bà nội: “Nội ơi, nội uống nước mát đi nội. Con mới làm phép từ đất ra đó!”
Bà nội Triết đỡ lấy ca nước, nhấp một ngụm nhỏ. Cái vị mát lành, tinh khiết thấm vào cổ họng khô khốc làm cụ tỉnh táo hẳn ra. Nội nhìn thằng cháu đích tôn, đôi mắt mờ đục ngời lên niềm yêu thương vô bờ bến, cụ cười móm mém, xoa mạnh lên quả đầu ba phân của anh: “Tổ cha mày thằng quỷ nhỏ! Khéo bùa phép ác chiến. Nước ở đâu mà ngọt lịm vậy con.”
Ba Triết đi vào, thấy vậy cũng lác mắt nhìn thằng con trai, cái sự hoang mang “tâm linh” của chương trước suýt chút nữa lại trỗi dậy, nhưng chú kịp kìm lại, chỉ biết cười khà khà vỗ vai anh đầy tự hào.
Đúng lúc đó, từ phía chân trời xa xăm hướng biển Tây, một tiếng ù… u… trầm đục vang lên. Những đám mây đen nặng trĩu chì bắt đầu kéo về, che khuất dần cái nắng gắt gao của buổi chiều muộn. Ngọn gió chướng bỗng chốc đổi hướng, thổi ràn rạt, mang theo cái vị nồng nồng của hơi đất, mùi ngai ngái của những hạt mưa đầu mùa sắp sửa đáp xuống triền đê.
“Mưa rồi! Mưa giông về rồi tụi bây ơi!” Thằng Tèo ngoài sân la lên vang trời.
Cả nhà Triết ùa ra trước hiên. Anh đứng dưới máng xối hàng ba, chiếc khăn quàng đỏ thắt lệch vai khẽ bay mạnh trong gió giông. Những giọt mưa đầu tiên to bằng hạt ngô bắt đầu rơi bộp bộp xuống nền sân đất nện, rồi nhanh chóng biến thành một trận mưa rào trắng xóa cả một khúc sông Tiền. Tiếng nước mưa xối xả chảy vào ba chiếc lu khạp da bò kêu ùm… ùm… như tiếng trống khai trận. Vương quốc tuổi thơ năm 2003 của anh, sau những ngày hạn mặn rát bỏng, cuối cùng đã được tưới mát bằng dòng nước tinh khôi của đất trời, báo hiệu một chương mới đầy sinh lực và những bước tiến vĩ đại sắp tới.