Đến nội dung chính

Chương 36: Đêm trăng rằm tuổi thơ, tiếng xích lô cọc cạch của chiếc lồng đèn lon sữa bò

admin 1.060 Chữ Cài Đặt

Đêm rằm tháng Tám năm 2002, bầu trời xứ cù lao xóm Lưới trong trẻo một cách lạ lùng. Sau những ngày mưa dầm dề, ông trăng tròn vành vạnh như một mâm vàng khổng lồ, thong thả trồi lên từ phía bên kia rặng bần vách sông Tiền, rải một lớp ánh sáng bạc lung linh xuống những tàu dừa nước còn sũng nước mưa.

Dù chiến dịch càn quét nắp khoen lon của Triết đã mang về một mớ lồng đèn giấy xếp Coca-Cola thời thượng, nhưng đối với đám con nít xóm Lưới, đêm Trung thu sẽ không bao giờ trọn vẹn nếu thiếu đi tiếng kêu cọc cạch đặc trưng của những chiếc lồng đèn “bình dân học vụ” tự chế: lồng đèn lon sữa bò đục lỗ.

Trước giờ rước đèn một tiếng, gian sàn nước nhà Triết biến thành một xưởng cơ khí thủ công thu nhỏ. Thằng Tèo, thằng Hùng “Biện” và mấy đứa con nít trong xóm quây quầy xung quanh Triết, mắt chăm chú nhìn “đại ca” trổ tài.
Vũ khí sáng tạo của Triết gồm vài cái vỏ lon sữa Ông Thọ bằng sắt đã được cạo sạch nhãn, vài nhánh tre gai già, mấy cọng kẽm rỉ sét và một chiếc đinh phân hai. Triết đặt chiếc lon sữa bò lên khúc gỗ dừa, dùng búa gõ nhẹ vào cây đinh, đục những hàng lỗ tròn nhỏ li ti xung quanh thân lon theo hình ngôi sao và chữ “XÓM LƯỚI”.

Anh khéo léo dùng dây kẽm xuyên qua tâm lon, nối với một thanh tre dài làm tay cầm. Phía dưới đáy lon, anh đục một lỗ lớn hơn để cắm cây nến sáp. Khi chiếc lon quay tròn trên mặt đất bằng bánh xe đẩy thủ công, ánh nến từ bên trong xuyên qua những cái lỗ nhỏ, hắt ra những tia sáng li ti nhảy múa trên nền đất như một ma trận đèn LED thu nhỏ.

“Đúng là kỹ sư có khác, cái lon sữa bò rách mà qua tay đại ca nhìn bén ngót hà!” Thằng Tèo vừa cầm chiếc lồng đèn lon quay thử một vòng trên sàn nước, nghe tiếng sắt cạ vào mặt đất kêu cọc cạch, cọc cạch vui tai, vừa trầm trồ khen ngợi.
Triết nhe răng cười, nghênh quả đầu ba phân khét nắng lên: “Chuyện! Đây gọi là Hệ thống trình chiếu quang học cơ khí đó mấy nhóc. Đi thôi, trăng lên tới ngọn dừa rồi!”

Đoàn quân rước đèn của xóm Lưới chính thức xuất phát từ gốc cây điệp già trước nhà nội. Dẫn đầu là Triết, chiếc khăn quàng đỏ thắt ngay ngắn trên cổ áo sơ mi sờn cũ, tay cầm chiếc lồng đèn ngôi sao đổi từ nắp khoen. Theo sau anh là hơn chục đứa con nít, đứa cầm lồng đèn giấy, đứa đẩy lồng đèn lon sữa bò kéo đi cọc cạch rộn rã khắp con lộ đất nện.

Ánh nến lung linh lập lòe bên trong những chiếc lon sắt đục lỗ, hắt ra những vệt sáng vàng vọt, loang lổ trên những bụi cây dâm bụt, những bờ dậu chè tàu dọc đường làng. Tiếng bước chân thình thịch, tiếng nói cười hò hét, và bài hát “Tết Trung Thu rước đèn đi chơi…” được cả đám đồng thanh ca vang một cách lệch nhịp, át cả tiếng ếch nhái uôm uôm dưới ruộng bông súng.
Bà nội Triết ngồi trên chiếc đôn gỗ ngoài hàng ba, tay đưa chiếc quạt mo cau khẽ quạt nhẹ, mắt nheo nheo nhìn bóng cháu trai khuất dần sau khúc quanh bờ đê. Nội móm mém cười, búng một miếng nước trầu đỏ thẫm ra sân, lòng nhẹ nhõm khi thấy thằng cháu đích tôn luôn là chỗ dựa, là đứa giương cờ đầu cho đám trẻ nghèo trong xóm.

Linh hồn ba mươi tuổi của gã cựu kỹ sư công nghệ năm 2026 khẽ chậm lại một nhịp khi anh bước đi giữa đoàn rước đèn quê mùa.

Anh ngước nhìn vầng trăng rằm đang soi bóng xuống mặt sông Tiền lấp lánh phù sa. Ở tương lai, những đêm Trung thu của anh chỉ là những tòa nhà chọc trời rực rỡ đèn neon, là những hộp bánh Trung thu dát vàng giá vài triệu đồng dùng để biếu xén quan hệ ngoại giao, và là màn hình điện thoại tràn ngập những lời chúc ảo vô cảm. Trăng ở thành phố bị che khuất bởi khói bụi và những khối bê tông cốt thép, chẳng bao giờ sáng rực và tinh khôi như đêm nay.

Hóa ra, cái thứ âm thanh cọc cạch vô tri của những chiếc lon sữa bò cũ kỹ nầy lại có sức mạnh kết nối mạnh mẽ đến vậy. Nó kết nối những đứa trẻ nghèo lại với nhau bằng niềm vui thô sơ nhất, và nó neo giữ linh hồn một kẻ từng trải như Triết lại với những giá trị nguyên bản của tình yêu thương và sự sẻ chia.

“Đại ca ơi! Đợi tao với! Đèn của tao bị tắt nến rồi!” Thằng Tèo phía sau la lớn khi một cơn gió chướng từ sông thổi mạnh làm tắt ngúm ngọn nến trong lon sữa bò.

Triết dừng lại, quay người bước về phía thằng đệ. Anh cúi người, lôi trong túi quần sọt ra hộp quẹt gas, che tay chắn gió rồi mồi lại lửa cho thằng Tèo. Ánh lửa bừng sáng, soi rõ khuôn mặt lem luốc mồ hôi nhưng rạng rỡ niềm vui của đứa trẻ xứ cù lao.

“Đi tiếp thôi tụi bây! Mục tiêu tiếp theo: Nhà ông Năm Thợ Bạc phá cỗ!” Triết hất hàm ra lệnh, giơ cao chiếc lồng đèn của mình lên trời.

“Hú lê! Đi phá cỗ tụi bây ơi!” Đám con nít rộ lên vang trời.

Đoàn người lại tiếp tục rước đèn đi sâu vào bóng đêm cù lao, để lại phía sau một vệt sáng lung linh ấm áp và tiếng kêu cọc cạch thân thương vang vọng suốt miền ký ức năm 2002. Vương quốc tuổi thơ của Triết, trong đêm trăng rằm tháng Tám nầy, chính là một thiên đường vĩnh cửu, nơi mà những chiếc lon sữa bò rỉ sét cũng có thể phát ra những thứ ánh sáng kỳ diệu sưởi ấm cả một cuộc đời anh về sau.