Đến nội dung chính

Chương 26: Quan điểm

admin 3.414 Chữ Cài Đặt

“Anh đang nghiên cứu thứ gì vậy.” Cậu nghiên đầu nhìn hắn, hỏi với ánh mắt chứa đầy sự tò mò.Nghe thấy vậy hắn nhàn nhạt nói:

“Chỉ là thấy kết cấu của nơi này khá đặc biệt, nó hoàn toàn thoát khỏi kết cấu cơ bản của việc một electron liên kết, với hạt nhân của một nguyên tử.”

Nghe thấy hắn nói vậy, cậu nhìn hắn nói:

“Chuyện đó không quan trọng điều quan trọng bây giờ là tôi đang cảm thấy hứng thú với, kết quả nghiên cứu của anh.”

Hắn nhưỡng mày nhìn cậu, rồi tiến gần lại chỗ cậu ngồi, ngồi xuống cạnh cậu.

“Nội dung chính của học thuyết tiến hóa Đacuyn cho rằng: các cá thể sinh vật luôn phải đấu tranh với nhau để giành quyền sinh tồn (hay còn gọi là quá trình đấu tranh sinh tồn) và do vậy chỉ có một số ít các cá thể được sống sót qua mỗi thế hệ, hay nói cách khác ta có thể coi nó như một hiện tượng chọn lọc nhân tạo.”
“Tôi lại không thấy nó đúng như vậy, tôi thấy nó nên được nhìn nhận bằng quan điểm của Lamack sẽ đúng nhât.” Dùng đôi mắt cong cong, như hình trăng non nhìn hắn cậu nói.

Quần thể hươu cổ ngắn sống trong môi trường bình thường thì không có sự biến đổi nào về hình thái. Khi môi trường sống thay đổi, thức ăn trở nên khan hiếm, các con hươu cổ ngắn phải vươn cổ để ăn những lá cây trên cao, dần dần làm cho cổ chúng trở nên dài ra. Tất cả các đặc điểm này đều được giữ lại và di truyền cho thế hệ con cháu thông qua quá trình sinh sản. Dần dần toàn bộ quần thể hươu cổ ngắn trở thành hươu cổ dài và không có cá thể nào bị chết. Môi trường sống thay đổi một cách chậm chạp và liên tục theo những hướng khác nhau và sinh vật chủ động thích ứng với môi trường bằng cách thay đổi tập quán hoạt động của các cơ quan. Cơ quan nào hoạt động nhiều thì liên tục phát triển, cơ quan nào không hoạt động thì dần dần tiêu biến. Các đặc điểm thích nghi luôn được di truyền lại cho thế hệ sau.Từ 1 loài ban đầu đã hình thành các loài khác nhau thích nghi với điều kiện sống khác nhau và không có loài nào bị diệt vong
Học thuyết so với thời đại đó là tiến bộ vì ông đã nhìn nhận sinh giới có sự biến đổi chứ không phải bất biến.”

– Chưa hiểu cơ chế di truyền và nguyên nhân phát sinh biến dị.

– Chưa phân biệt được biến dị di truyền và không di truyền.

– Sinh vật không chủ động thay đổi những tập quán hoạt động của các cơ quan vì có rất nhiều dạng sinh vật bị diệt vong.”

Nghe cậu giảng giải những thứ mà bản thân cậu thấy được, với ánh mắt tràn ngập những điểm sáng lấp lánh.

Cậu đang tỏa sáng trong thế giới của mình.

Thấy hắn lâu không nói gì thì cậu hỏi hắn:

“Còn anh thấy sao về quan điểm của Đacuyn.”

Nghe vậy hắn cười nhẹ rồi bắt đầu nói.

Trong quần thể hươu cổ ngắn lúc đầu đã có sẵn những biến dị làm cho cổ chúng dài hơn bình thường. Khi môi trường sống thay đổi những biến dị này trở nên có lợi vì giúp nó ăn được những lá cây trên cao. Những cá thể có biến dị cổ dài sẽ có sức sống cao hơn và sinh sản mạnh hơn, càng ngày số lượng hươu cổ dài càng tăng trong quần thể. Trong khi đó các cá thể có cổ ngắn do thiếu thức ăn sẽ bị chết. Dần dần quần thể hươu cổ ngắn lúc đầu trở thành quần thể hươu cổ dài.
Trong quần thể tự nhiên đã tồn tại sẵn những biến dị. Khi môi trường thay đổi những cá thể nào có biến dị có lợi giúp sinh vật tồn tại và phát triển thì khả năng sống sót và sinh sản cao hơn, những cá thể nào có những biến dị có hại thì bị đào thải.

Hình thành các loài khác nhau từ 1 loài tổ tiên là do quá trình chọn lọc tự nhiên.

Thực chất của CLTN là sự phân hóa khả năng sống sót của các cá thể trong quần thể và kết quả của CLTN là quần thể sinh vật có các đặc điểm thích nghi với môi trường sống.

Phát hiện cơ chế hình thành loài là do CLTN. Khi môi trường thay đổi, CLTN sẽ chọn lọc những dạng thích nghi với môi trường sống

– Chưa giải thích được cơ chế di truyền.

– Chưa giải thích được nguyên nhân phát sinh biến dị.”

“Thấy chưa vậy là chúng đều không hoàn hảo, vậy tại sao anh lại trọn nghiên cứu theo hướng tiến hoá của Đacuyn vậy.”

Thấy được sự tò mò và khó hiểu trong đáy mắt của cậu hắn lên tiếng nói.

“Nguyên thể và kết cấu của loài người nơi này đã hoàn toàn thay đổi tuy nhiên, đứng từ góc độ thực tế mà nói chúng vẫn được chia làm các bộ, giới, phân, nhánh vad chi. Điều đó chứng rằng thiết tiến hoá cũng như đang thật sự tồn tại, nó đã từng diễn ra và gây mất cân bằng.”

Nghe hắn nói vậy, cậu nhen vào khó hiểu nhìn hắn nói:

“Tại sao anh lại trắc trắn với nó như vậy.”

Nhìn thấy cậu đang với thức tỏ ra sự hứng thú với những thứ mà bản thân cậu muốn biết, lại lần nữa khiến hắn phải nhanh giải đáp trước khi gục ngã.

“Con người tiến hoá có những giai đoạn nào.”

Cậu nhìn hắn, với ánh mắt có thứ này thôi anh cũng cần hỏi à.

Thanh thanh giọng nói, cậu bắt đầu nói như đang chuẩn bị cho phát biểu.

“Tiến hóa của loài người là quá trình tiến hóa dẫn tới sự xuất hiện của người hiện đại về mặt giải phẫu. Chủ đề thông thường tập trung vào lịch sử tiến hóa của linh trưởng — cụ thể là chi Homo, và sự xuất hiện của Homo sapiens như là một loài khác biệt trong Hominidae (tức “vượn lớn”) — chứ không phải nghiên cứu về lịch sử sớm hơn đã dẫn tới sự ra đời của linh trưởng.Nghiên cứu về sự tiến hóa của loài người áp dụng sự liên kết đa ngành, bao gồm nhân loại học, linh trưởng học, di truyền học, khảo cổ học, cổ sinh vật học, ngôn ngữ học, phong tục học, tâm lý học tiến hóa và phôi học.[1]

Quan điểm chính trong giới khoa học đề cập đến nguồn gốc của người hiện đại về mặt giải phẫu là giả thuyết được gọi là “rời khỏi châu Phi” (OOA, Out of Africa) hay “nguồn gốc châu Phi gần đây của người hiện đại” (RAOMH) hay giả thiết nguồn gốc châu Phi gần đây (RAO),[2][3][4] cho rằng loài người (Homo sapiens) có nguồn gốc châu Phi và di cư ra khỏi lục địa này vào khoảng 100 đến 50 Ka BP (Ka BP = Kilo annum before present = ngàn năm trước).

Homo sapiens sau đó đã thay thế Homo erectus ở châu Á và người Neanderthal ở châu Âu.Từ homo, tên gọi một chi sinh học mà loài người thuộc về, là tiếng Latin để chỉ “con người” hay “loài người”, được Linnaeus chọn đầu tiên trong hệ thống phân loại của mình. Từ “con người” trong tiếng Latin là humanus, dạng tính từ của homo, và nó xuất phát từ gốc Ấn-Âu *dhghem có nghĩa “trái đất”. Linnaeus và các nhà khoa học khác cùng thời đã coi các loài vượn lớn là các họ hàng gần nhất của loài người dựa trên các nét tương đồng về hình thái và giải phẫu.

Darwin

sửa

Khả năng kết nối con người với loài khỉ trước đó theo huyết thống trở nên rõ ràng chỉ sau năm 1859 với việc Charles Darwin xuất bản Nguồn gốc các loài, trong đó ông lập luận cho ý tưởng về sự tiến hóa của những loài mới từ loài trước đó. Cuốn sách của Darwin đã không giải quyết câu hỏi về sự tiến hóa của con người, chỉ nói rằng “Ánh sáng sẽ làm sáng tỏ về nguồn gốc của con người và lịch sử của mình.”

Các cuộc tranh luận đầu tiên về bản chất của quá trình tiến hóa của con người nảy sinh giữa Thomas Henry Huxley và Richard Owen. Huxley lập luận cho sự tiến hóa của con người từ loài khỉ bằng cách minh họa nhiều điểm tương đồng và khác biệt giữa con người và loài khỉ, và đã làm như vậy đặc biệt là vào năm 1863 cuốn sách “Bằng chứng vị trí con người trong tự nhiên” (Evidence as to Man”s Place in Nature). Tuy nhiên, nhiều người ủng hộ ban đầu của Darwin (như Alfred Russel Wallace và Charles Lyell) đã không đồng ý ngay rằng nguồn gốc của năng lực tinh thần và sự nhạy cảm đạo đức của con người có thể được giải thích bởi sự chọn lọc tự nhiên, mặc dù điều này sau đó đã thay đổi. Darwin áp dụng các lý thuyết về sự tiến hóa và chọn lọc giới tính cho con người khi ông xuất bản “The Descent of Man” vào năm 1871.[5Đường phát tán loài người theo các nhóm đơn bội mtDNA (dòng mẹ, trái), và theo các nhóm đơn bội Y-DNA (dòng bố, phải) [6]. Phần đất liền vào thời kỳ băng hà 10 Ka về trước, nay bị chìm dưới biển được tô màu trắng.”

Nghe xong những gì cậu nói hắn gật gù, bắt đầu giải thích:

“Alpha, beta, hay omega cũng là trạng thái của một lại tiến hoá, chúng ta đã tiến hoá các cơ, các mô phân và có một cơ thể trạng thái, và có được cấu trúc liên kết như mạng lưới nấm là phenomen.”

“Cấu trúc của chuỗi xoắn kép DNA. Các nguyên tử với màu sắc khác nhau đại diện cho các nguyên tố và chi tiết cấu trúc hai cặp base thể hiện bên phải cho thấy chi tiết cấu trúc của bốn bazơ, adenin, cytosine, guanine và thymine, và vị trí của rãnh chính và rãnh phụ.Hai mạch DNA này được gọi là các polynucleotide vì thành phần của chúng bao gồm các đơn phân nucleotide.[4][5] Mỗi nucleotide được cấu tạo từ một trong bốn loại nucleobase chứa nitrogen—hoặc là cytosine (C, ở Việt Nam còn viết là xitôzin, viết tắt X), guanine (G), adenine (A), hay thymine (T)—liên kết với đường deoxyribose và một nhóm phosphate. Các nucleotide liên kết với nhau thành một mạch DNA bằng liên kết phosphodiester (liên kết cộng hóa trị) giữa phân tử đường của nucleotide với nhóm phosphate của nucleotide tiếp theo, tạo thành “khung xương sống” đường-phosphate luân phiên vững chắc.

Những base nitơ giữa hai mạch đơn polynucleotide liên kết với nhau theo nguyên tắc bổ sung (A liên kết với T, và C liên kết với G) thông qua các mối liên kết hydrogen để tạo nên chuỗi DNA mạch kép. Tổng số lượng cặp base liên quan tới DNA trên Trái Đất ước tính bằng 5,0 x 1037, và nặng khoảng 50 tỷ tấn.[6] Để so sánh, tổng khối lượng của sinh quyển xấp xỉ bằng 4 nghìn tỷ tấn carbon.[7]

DNA lưu trữ thông tin sinh học, các mã di truyền đến các thế hệ tiếp theo và để chỉ dẫn cho quá trình sinh tổng hợp protein. Mạch đơn DNA có liên kết hóa học vững chắc chống lại sự phân cắt, và hai mạch đơn của chuỗi xoắn kép lưu trữ thông tin sinh học như nhau. Thông tin này được sao chép nhờ sự phân tách hai mạch đơn. Một tỷ lệ đáng kể DNA (hơn 98% ở người) là các đoạn DNA không mã hóa (non-coding), nghĩa là những vùng này không giữ vai trò mạch khuôn để xác định trình tự protein thông qua các quá trình phiên mã, dịch mã.

Hai mạch DNA chạy song song theo hai hướng ngược nhau. Gắn với mỗi phân tử đường là một trong bốn loại nucleobase (hay các base). Thông tin di truyền được mã hóa bởi trình tự của bốn nucleobase gắn trên mỗi mạch đơn. Những mạch RNA được tổng hợp từ những khuôn mẫu là mạch gốc của DNA trong quá trình phiên mã. Và dưới sự chỉ dẫn của mã di truyền, phân tử RNA tiếp tục được diễn dịch để xác định trình tự các amino acid ở cấu trúc protein trong quá trình dịch mã.

DNA ở tế bào nhân thực (động vật, thực vật, nấm và nguyên sinh vật) được lưu trữ bên trong nhân tế bào và một số bào quan, như ty thể hoặc lục lạp.[8] Ngược lại, ở sinh vật nhân sơ (vi khuẩn và vi khuẩn cổ), do không có nhân tế bào, DNA nằm trong tế bào chất. Bên trong tế bào, DNA tổ chức thành những cấu trúc dài gọi là nhiễm sắc thể (chromosome). Trong giai đoạn phân bào các nhiễm sắc thể hình thành được nhân đôi bằng cơ chế nhân đôi DNA, mang lại cho mỗi tế bào có một bộ nhiễm sắc thể hoàn chỉnh như nhau. Ở nhiễm sắc thể sinh vật nhân thực, những protein chất nhiễm sắc (chromatin) như histone giúp thắt chặt và tổ chức cấu trúc DNA. Chính cấu trúc thắt chặt này sẽ quản lý sự tương tác giữa DNA với các protein khác, quy định vùng nào của DNA sẽ được phiên mã.

Friedrich Miescher đã cô lập được DNA lần đầu tiên vào năm 1869. Francis Crick và James Watson nhận ra cấu trúc phân tử chuỗi xoắn kép của nó vào năm 1953, dựa trên mô hình xây dựng từ dữ liệu thu thập qua ảnh chụp nhiễu xạ tia X do Rosalind Franklin thực hiện. DNA trở thành một công cụ phân tử giúp các nhà nghiên cứu khám phá các lý thuyết và định luật vật lý sinh học, như định lý ergodic và lý thuyết đàn hồi. Những tính chất vật liệu độc đáo của DNA biến nó trở thành phân tử hữu ích đối với các nhà khoa học vật liệu quan tâm trong lĩnh vực chế tạo vật liệu cỡ micro và nano, như trong công nghệ nano DNA. Các tiến bộ trong lĩnh vực này bao gồm phương pháp origami DNA và vật liệu lai dựa trên DNA.[9]DNA thông thường hiện diện trong nhiễm sắc thể dạng thẳng ở sinh vật nhân thực, và nhiễm sắc thể dạng vòng ở sinh vật nhân sơ. Nhiễm sắc thể (chromosome) thực chất là chất nhiễm sắc (chromatin) bị co xoắn từ kỳ đầu của quá trình phân bào. Còn chất nhiễm sắc chính là phức hợp giữa chuỗi xoắn kép DNA với các protein histone và phi histone gói gọn thành một cấu trúc cô đặc. Điều này cho phép các phân tử DNA rất dài nằm gọn trong nhân tế bào. Cấu trúc vật lý của nhiễm sắc thể và chất nhiễm sắc thay đổi luân phiên tùy thuộc vào từng giai đoạn của chu kỳ tế bào. Tập hợp các nhiễm sắc thể trong một tế bào tạo thành bộ gene của nó; bộ gene người có xấp xỉ 3 tỷ cặp base DNA xếp thành 46 nhiễm sắc thể.[97] Thông tin chứa trong DNA tổ chức dưới dạng trình tự của các đoạn DNA gọi là gene. Sự kế thừa thông tin di truyền trong gene được thực hiện thông qua các cặp base bổ sung. Ví dụ, trong quá trình phiên mã, khi một tế bào sử dụng thông tin ở một gene, trình tự DNA sẽ được sao mã vào trình tự bổ sung RNA thông qua lực hút giữa DNA và các nucleotide chính xác của RNA. Thông thường, bản sao RNA này được dùng làm khuôn mẫu để xác định trình tự các amino acid trong quá trình dịch mã, thông qua sự tương tác giữa các nucleotide RNA. Trong quá trình khác, một tế bào có thể tự sao chép thông tin di truyền của nó bằng quá trình nhân đôi DNA. Chi tiết của những chức năng này được nêu trong những bài viết liên quan; bài này tập trung vào tương tác giữa DNA và các phân tử khác mà đảm trách các chức năng của bộ gene.Gene là một đoạn của DNA mã hóa các thông tin chức năng sinh học. Nhiễm sắc thể chứa một chuỗi DNA dài trên đó bao gồm rất nhiều gene. Một nhiễm sắc thể ở người có thể chứa tới 500 triệu cặp base với hàng nghìn gene.DNA chứa các đoạn gene được gói gọn và xếp chặt có thứ tự bởi quá trình cô đặc DNA (DNA condensation), để có thể vừa vặn trong một thể tích nhỏ của tế bào. Ở sinh vật nhân thực, DNA nằm trong nhân tế bào, cùng với một lượng nhỏ nằm trong ty thể và lục lạp. Ở sinh vật nhân sơ, DNA nằm trong một thể có hình dạng không đều giữa tế bào chất, gọi là thể nhân (hoặc vùng nhân, nucleoid).[98] Thông tin di duyền trong một bộ gene được lưu trữ bởi các gene, và tập hợp toàn bộ các gene trong tế bào của cơ thể thuộc một loài sinh vật được gọi là kiểu gene. Mỗi gene là một đơn vị của tính di truyền và là một đoạn của DNA có ảnh hưởng tới một đặc tính cụ thể trong cơ thể sinh vật. Các gene chứa một khung đọc mở (open reading frame) có thể được phiên mã, cùng với các vùng trình tự điều hòa (regulatory sequence) như vùng khởi động (promoter) và vùng tăng cường (enhancer) có khả năng điều hòa quá trình phiên mã của khung đọc mở.”

Nghe đến đây cậu chen ngang cắt ngang hắn:

“DNA thì có liên quan gì đến phenomen chứ.?!”

Hăn búng nhẹ vào chán câu nói.

“Đừng có hấp tấp hiểu không.”

Hắn tiếp tục nói thêm:

“DNA, hay RNA thông tin là những thứ di truyền gene mà chúng ta đã biết trước, vậy phenomen hoàn toàn chứa các nhân tố của DNA từ việc an ủi lẫn nhau, hay bổ sung phenomen khi mang thai, nó chả khác gì với việc tiêm hormone có chứa DNA để an ủi thai nhi cả.”

Hít sâu một hơi cậu nói: “vây thiết tiến hoá có còn giải thích được nữa không, hay sự vậy tiến hoá này là bước đệm cuối cùng.”

Nhìn cậu hắn nói.” Chúng, vẫn được cấu tạo từ. oxy, carbon, hydro, nitơ, calci và phosphor. Chỉ có khoảng 0,85% bao gồm năm nguyên tố khác: kali, lưu huỳnh, natri, clo và magiê. Tất cả 11 nguyên tố đều cần thiết cho cuộc sống chúng vẫn là sinh vậy carbon, chẳng lẽ em lại sợ à.”

Nghe thấy cậu gân cổ lên nói lớn.” Ai sợ anh chứ hả, hả… Hả hả.”

Hắn nhẹ nhàng xoa đầu cậu mọi truyện sẽ không làm sao đâu.

Mặc dù cả hai người đều là thiên tài đáng chân quý, nhưng hiện tại bọn họ đang ngồi trong một không gian chả có gì, để thảo luận khoa học, một điều kiện rất hoang sơ.

Bỗng dưng cậu nói.

“Gặp lại anh sau, nó vận hành lại rồi, vòng lặp mới Ethanol đã về lại chỗ cũ, hẹn gặp lại.”

Nụ cười đó khiến hắn cảm thấy trái tim như mất khống chế, thịch thịch,thịch.

Hẹn gặp lại nhé, người tôi thương.

______

Tác giả : hahahahaha cá đã quay trở lại và đây là thành quả gần 4 ngày của cá, mong các bạn sẽ thích.

Cảm ơn bạn Hoa Tử Đằng đã đề cử cho cá 30k ánh kim nhé, chúc bạn mãi xinh đẹp, gặp được định mệnh, thật hạnh phúc và vui vẻ, cũng xin lỗi vì cá chưa chúc ai bao giờ cả, bạn có thể bỏ qua nếu thấy nó quá lỗ nhé.

Chúc mọi người ngủ ngon.

Đếm ngược ngày 30/4 nào!!

Đây là vòng lặp thứ 8 nên bé nó mới nói hẹn gặp lại chứ chưa end nha🤭🤣, xin lỗi vì gây hiểu lầm ạ.