“Vài người đàn ông bị dọa khi một con mèo băng ngang đường đi của họ, hay một bà lão lác mắt cau mày với họ. Em không cả tin đến thế.” Tôi ngước lên và thấy gương mặt anh. “Ngài không muốn xa thứ này. Em sẽ đặt nó lại và chọn cái khác.”
“Không, giữ đi. Đó là vật vô giá trị – ta đã không thấy nó trong rất nhiều năm, vậy thôi. Ta không biết mình đã giữ nó. Ta được tặng nhiều năm trước, bởi người vợ thứ hai của cha ta. Bà đã chết không lâu sau đó.”
“Nữ Công tước Isabella?” Tôi không thể hiểu vẻ kỳ lạ, chết chóc của anh, giọng nói gần như mơ hồ. “Bà ấy bị giết, họ nói với em thế.”
“Ai nói với em?” Anh sắc bén đề nghị.
“Ippolito – ngài ấy nói bà chết trong một tai nạn.”
“Nó… được công bố như vậy.” Anh nói chậm rãi, sau một lúc do dự lâu. “Thực tế, không ai chắc bà chết như thế nào. Chỉ là trước đó, vài tên thuộc giáo phái Luther cuồng tín đã cố gắng tìm kiếm cách làm tổn thương Cabria với niềm tin dị giáo, bằng cách giết ông chú ta, người đứng đầu Nhà Thờ Thánh Công Giáo. Hắn thất bại nhưng thoát được khỏi bọn lính gác, và mọi người nghĩ rằng hắn lại đến vào ban đêm và đã thành công tốt đẹp hơn.”
Ý nghĩ khiến tôi rùng mình. “Nhưng hắn không thể không bị nhìn thấy ko bị nghe thấy – bà ấy chết như thế nào, và làm sao không ai biết?”
“Bà đã đi cầu nguyện trong nhà nguyện riêng tư.” Anh cúi mái đầu bạc ánh kim xuống, giọng bị bóp nghẹt; anh đang tàn nhẫn cắm đầu dao găm lên chiếc bàn chạm trổ.
“Đó là việc bà thường làm – bà sẽ cầu nguyện cả hàng giờ, và không ai chú ý đến sự vắng mặt của bà. Có lẽ bà đang cầu nguyện được giải thoát khỏi cha ta.” Anh hằn học thêm vào.
Tôi nhìn vào chiếc nhẫn xỉn màu lần nữa. “Người phụ nữ đáng thương.” Tôi thì thầm.
“Viên ngọc trai đó có thể là những giọt nước mắt bà đọng lại vì ông.” Con dao trên chiếc bàn gần như đầy thù hận. “Bà khóc nhiều hơn bất kỳ người đàn bà nào mà ta biết. Tục ngữ đúng với bà ấy; bà đã có đủ vận rủi với nó.”
“Nhưng bà chết khi trao nó đi.” Tôi nói gần như không suy nghĩ và nhanh chóng thêm vào. “Chuyện gì xảy ra với người Luther?”
“Hắn ta bị bắt và đem ra tử hình vì tội trạng giết bà ấy.” Câu trả lời của anh mơ hồ khi anh chăm chăm nhìn vết khía hình chữ V của con dao găm. “Tên thuộc giáo hội Luther không có bằng chứng nào chứng tỏ hắn đã không đến gần khi bà một mình, đâm bà, và rồi lẩn đi. Có thể hắn đã lẩn đi ngay khi có thể. Hắn thề hắn đang uống tại một quán rượu, nhưng một tên lính thấy hắn tại nơi cửa hoàng cung; dù sao đi nữa, hắn bị treo cổ vì việc ấy.”
“Ngài có yêu bà ấy không?” Tôi hỏi một cách chẳng ăn nhập gì.
Anh nhanh chóng ngước lên trước câu hỏi đó, và tôi thấy mắt anh là một màu đen đục ngầu, chết chóc; chẳng có tí ánh sáng nào trong chúng. “Ta? Không.”
“Nhưng bà yêu anh.”
“Sao em lại nói thế?”
“Vì bà cho anh chiếc nhẫn của bà. Bà hẳn phải yêu anh.” Không người phụ nữ nào có thể chọn điều gì khác ngoài yêu anh, tôi nghĩ, nhưng tôi sẽ không bao giờ nói với anh nhiều đến mức ấy.
“Nó là một món quà không ra gì.” Giọng anh không thần sắc, bằng cách nào đó nghe phòng thủ. “Ta chỉ mang nó một lần.”
“Có phải nó làm ngài tổn thương rất nhiều sau khi bà ấy chết?”
“Ta không mong ước nghĩ đến bà ấy!” Anh hung tợn cáu kỉnh, gần như nóng nảy. “Ta không thích cái chết – chúng thuộc về những hầm mộ và chiến trường.”
Khi anh lên tiếng, tôi thấy cây viết lông ngỗng trong tay phải anh, nhô ra khỏi lọ mực đặt trong một cái đầu lâu người. Ngay lập tức nó khiến tôi cảm thấy lạnh toát. “Nó khủng khiếp đến thế sao?” Tôi nói và cắn môi. Tôi không có ý hỏi, nhưng nó tự động bật ra.
Anh im lặng lâu đến mức tôi nghĩ anh không có ý trả lời, nhưng rồi cuối cùng bắt đầu nói bằng giọng rì rầm mơ hồ, kỳ lạ.
“Bà đang nằm trên sàn khi ta đến, như thể bà đã không hề di chuyển cả đêm. Ta nghĩ bà đã rơi vào giấc ngủ và ta gọi bà dậy, nhưng bà không trả lời – và sàn nhà máu” anh bỗng nhiên sững lại, tắc nghẹn. “Bất cứ ai giết bà đã làm rất tốt.”
Sau đó tôi hiểu ra cơn ác mộng của anh. Đó là do cơ thể người mẹ kế, nằm xoãi người trên sàn nhà nguyện ngập trong máu mình, đã ám ảnh anh. Nhưng tại sao, tôi tự hỏi; tội lỗi nào đã khiến anh tìm cách quên bà nhiều đến thế, và tại sao anh nói lời báng bổ trong giấc ngủ?
Chiếc nhẫn nhẹ tỏa sáng trên tay khi tôi tháo chiếc nhẫn ra và đặt vào tay anh, và tôi tự hỏi tại sao mình không thể ghê sợ nó. Nhưng nó dường như là món đồ lưu niệm buồn hơn là một thứ đáng ghê tởm; viên ngọc trai xám bạc vô tri không không mang lại vết nhơ nào với chúng. Anh không thấy tôi di chuyển, và tay tôi buông thõng xuống bên hông. Rồi với một chuyển động nóng vội, anh kép chặt con dao găm vào vỏ, thẳng lưng.
“Giữ lấy chiếc nhẫn nếu em muốn,Có lẽ ngắm nhìn nó trên tay em sẽ nhấn chìm những ký ức khác.”
“Cám ơn ngài.” Nghe có vẻ hơi đáng thương, nhưng là tất cả những gì tôi có thể nói.
“Không gì khác nữa sao?” Tay anh trên vai tôi vẫn không dao động, và tôi có thể cảm giác sự run rẩy nơi những ngón tay ấy khi chúng trượt xuống ống tay áo tôi. “Những lời cám ơn khiêm nhường nhất của em, thưa Đức ngài?” Giọng tôi nghe như hết hơi, khi tay anh siết chặt. Anh nói với cái nhìn trừng trừng rằng đó không hoàn toàn là sự đe dọa, “Hugo…” rồi quay lại nhanh chóng vô cùng ngạc nhiên khi cửa mở.
“Đức ngài!”
“Anh trai.” Đôi mắt công tước nheo lại, hai bàn tay lộ ra, run rẩy nắm chặt sau lưng. “Anh đang đến không đúng thời điểm.”
“Thứ lỗi cho ta, em trai ” – Sandro thoáng liếc qua tôi rầu rĩ và cúi thấp đầu – “nhưng anh có tin để nói với em. Thông điệp đó khiến ông chú chúng ta mất một ít sức – ông ấy đã chặn đứng một mật mã giống thế trước đây từ tin nhắn của những tên gián điệp chúng ta đã lấy, nhưng cái này nói thẳng ra. Anh nghĩ em sẽ thích được biết Quercia coi ai như chủ nhân.”
Anh đưa tay ra mà không nói một lời, và Sandro đặt hai mảnh giấy vào tay anh.
“Đây, thông điệp và phần dịch ra của nó. Em sẽ thấy những kẻ tay sai này thỉnh thoảng làm biến đổi mật mã của chúng! – và anh mang de’Falconieri đến, người sẽ không tin anh không tự dựng lên chuyện này. Anh nói rằng quý công tử đây sẽ xác nhận tìm thấy nó như thế nào.