Đến nội dung chính

Chương 2: Người khách gõ của lúc nửa đêm

admin 1.649 Chữ Cài Đặt

Lời tuyên bố của Ronald Pendelton rơi vào căn phòng tĩnh mịch của phố Baker như một tiếng sét giữa trời quang. Khói thuốc từ tẩu của Holmes ngừng bay; anh đứng bất động trong giây lát, đôi mắt nheo lại, khóa chặt vào gương mặt nhợt nhạt của người thanh niên trẻ tuổi. Đối với một người bình thường, cái tên Sir Arthur Pendelton chỉ gợi lên hình ảnh một học giả lập dị làm việc cho chính phủ. Nhưng đối với Sherlock Holmes, và một phần nào đó là tôi, cái tên ấy gắn liền với những chuyển động ngầm nhạy cảm nhất của bàn cờ chính trị châu Âu.

“Chiếc hộp Pandora?” Holmes lặp lại, giọng anh trầm xuống đầy nguy hiểm. “Một cái tên đầy ẩn ý văn học cho một thứ chắc chắn mang tính chất quân sự hoặc ngoại giao cực kỳ nhạy cảm. Hãy ngồi xuống, thưa ngài Pendelton. Watson, làm ơn rót cho vị khách của chúng ta một chút rượu mạnh. Anh ta đang run lên vì lạnh và sợ hãi đấy.”
Tôi nhanh chóng bước đến tủ búp phê, rót một ly brandy nồng ấm và đưa cho Ronald. Người thanh niên đón lấy bằng hai bàn tay run rẩy, uống cạn một hơi. Sắc hồng dần trở lại trên đôi má hóp của anh ta.

“Bây giờ.” Holmes nói, ngồi xuống chiếc ghế đối diện khách hàng, hai đầu ngón tay chụm lại với nhau tạo thành hình mái nhà – tư thế quen thuộc mỗi khi anh tập trung cao độ. “Hãy kể cho chúng tôi nghe mọi chuyện từ đầu. Thật chi tiết. Đừng bỏ qua bất kỳ chi tiết nào, dù ngài có nghĩ nó tầm thường đến đâu.”

Ronald Pendelton đặt chiếc ly không xuống, hít một hơi thật sâu rồi bắt đầu kể:

“Mọi chuyện bắt đầu vào khoảng ba ngày trước, thưa ông Holmes. Chú tôi, Sir Arthur, vốn là người đứng đầu Ban Mật mã của Bộ Ngoại giao. Công việc của ông là giải mã các bức điện tín ngoại giao nhạy cảm nhất từ các đại sứ quán nước ngoài gửi về Luân Đôn. Ông là một người cực kỳ kỷ luật, sống ẩn dật tại dinh thự Richmond cùng với người quản gia già, ông Giles, và hai người hầu gái. Tôi là người thân duy nhất còn lại của ông ở nước Anh này.”
“Và chiếc hộp Pandora là gì?” Holmes ngắt lời.

“Đó là một chiếc hộp bằng thép rèn đặc biệt, do chính thợ cơ khí hoàng gia chế tạo theo đơn đặt hàng của Thủ tướng.” Ronald hạ thấp giọng, gần như thì thầm. “Nó không có lỗ khóa thông thường mà sử dụng một hệ thống khóa mật mã xoay bằng các ký tự cổ ngữ Hy Lạp. Bên trong chiếc hộp đó, chú tôi cất giữ bản thảo cuối cùng của hệ thống mật mã “Gió Nam” – một hệ thống khóa mã hóa mới mà Hải quân Hoàng gia dự định áp dụng vào tháng sau để liên lạc giữa các hạm đội ở Địa Trung Hải và Biển Bắc. Nếu hệ thống này rơi vào tay nước ngoài toàn bộ sức mạnh hàng hải của Đế quốc sẽ bị vô hiệu hóa.”

“Một mục tiêu vô giá cho bất kỳ cơ quan tình báo ngoại bang nào.” Holmes lầm bầm, mắt anh sáng lên tia lửa phấn khích. “Tiếp tục đi, ngài Pendelton. Chuyện gì đã xảy ra vào đêm qua?”
“Tối qua, tôi nhận được một bức thư ngắn từ chú tôi, được chuyển bằng người đưa thư hỏa tốc lúc chín giờ tối. Thư chỉ viết vỏn vẹn vài dòng bằng nét chữ vô cùng nguệch ngoạc, điều rất hiếm thấy ở một người viết chữ đẹp như ông: Ronald, đến Richmond ngay khi cháu nhận được thư này. Pandora đang rạn nứt. Gió Nam đang đổi hướng. Hãy cẩn thận.”

“Tôi lập tức đón chuyến tàu muộn nhất từ ga Waterloo để đến Richmond. Khi tôi đến nơi thì đã gần nửa đêm. Trời mưa tầm tã và sương mù bao phủ khắp khu vườn của dinh thự. Khi tôi bước vào sảnh, ông Giles, người quản gia, đang đứng run rẩy ở chân cầu thang. Ông ấy nói với tôi rằng Sir Arthur đã khóa chặt cửa phòng làm việc từ lúc tám giờ tối và không cho ai vào, nhưng cách đó mười lăm phút, ông Giles nghe thấy một tiếng động lớn như tiếng đổ vỡ của đồ đạc phát ra từ bên trong.”

“Các người có gõ cửa không?” Tôi không kìm được liền hỏi.

“Có chứ, Bác sĩ Watson! Chúng tôi đã gõ cửa liên tục, gọi tên chú tôi, nhưng không có tiếng trả lời. Cửa phòng làm việc của chú tôi là loại cửa gỗ sồi dày ba inch, được gia cố bằng các thanh sắt bảo vệ ở mặt trong, và chốt khóa cũng bằng sắt rất chắc chắn. Cuối cùng, lo sợ có chuyện chẳng lành, tôi và Giles đã phải dùng một chiếc rìu bổ củi từ nhà kho để phá cửa.”

Ronald nhắm mắt lại, bóp chặt trán như thể đang cố xóa đi hình ảnh kinh hoàng hiện ra trong tâm trí.

“Cảnh tượng bên trong thật kinh khủng. Căn phòng hoàn toàn tối om, ngoại trừ ánh lửa tàn lụi từ lò sưởi. Khi chúng tôi thắp đèn dầu lên, tôi thấy chú tôi… Ông ấy nằm sấp trên chiếc bàn làm việc lớn bằng gỗ gụ. Một vũng máu lớn đã đông lại dưới ngực ông. Trên tay phải của ông vẫn còn cầm một cây bút lông ngỗng bị gãy làm đôi. Chiếc hộp Pandora, vốn luôn được đặt trên chiếc bệ đá cẩm thạch ở góc phòng, đã biến mất. Chỉ còn lại chiếc bệ trống rỗng.”

“Và vết thương của ông ấy?” Holmes hỏi, người hơi nhô về phía trước.

“Một vết đâm chí mạng ngay tim, thưa ông. Nhưng điều kỳ lạ là, không hề có bất kỳ vũ khí nào trong phòng. Không có dao, không có gươm trang trí nào bị lấy đi từ bức tường. Cảnh sát Richmond, do Thanh tra Lestrade dẫn đầu, đã đến hiện trường sau đó một giờ. Họ nhanh chóng kết luận rằng đó là một vụ tự sát.”

“Tự sát?” Tôi kêu lên đầy hoài nghi. “Tự sát bằng một vết đâm vào tim mà không tìm thấy vũ khí? Thật nực cười!”

“Lestrade lập luận thế nào?” Holmes hỏi, khóe miệng anh khẽ nhếch lên một nụ cười mỉa mai quen thuộc khi nhắc đến vị thanh tra của Scotland Yard.

“Họ tìm thấy một chiếc lọ nhỏ rỗng không trên sàn nhà, bên trong có mùi thuốc phiện nồng nặc. Lestrade cho rằng chú tôi đã tự đầu độc mình, sau đó trong cơn mê sảng đã tự đâm mình bằng một con dao găm nhỏ rồi ném nó qua cửa sổ ra con sông Thames chảy ngay phía sau dinh thự trước khi gục chết.”

“Nhưng cửa sổ thì sao?” Holmes hỏi nhanh. “Nó có mở không?”

“Không.” Ronald lắc đầu chắc nịch. “Cửa sổ dạng kính màu kiểu Gothic của phòng làm việc hoàn toàn đóng kín và được chốt chặt từ bên trong bằng các lẫy đồng thau. Không hề có một vết nứt hay vỡ nào trên kính. Căn phòng hoàn toàn là một không gian khép kín hoàn hảo. Cửa chính khóa trong, cửa sổ chốt trong. Đó là lý do tại sao Lestrade tin rằng không ai có thể đột nhập vào được.”

Holmes đứng dậy, bắt đầu bước đi những bước dài quanh phòng, hai tay đút vào túi áo choàng ngủ. Anh lẩm bẩm một mình:

“Một căn phòng kín hoàn hảo. Một vũ khí biến mất. Một chiếc hộp mật mã bị đánh cắp. Một tin nhắn bằng máu… À, ngài Pendelton, ngài có nhắc đến một thông điệp dang dở bằng máu ở đầu buổi nói chuyện chứ?”

“Đúng vậy, ông Holmes!” Ronald vội vàng mở chiếc túi da nhỏ mà anh ta mang theo, lấy ra một tờ giấy vẽ phác thảo. “Trước khi cảnh sát phong tỏa hiện trường, tôi đã kịp dùng bút chì vẽ lại những gì chú tôi đã viết bằng ngón tay đẫm máu của mình trên mặt bàn gỗ gụ, ngay trước khi ông trút hơi thở cuối cùng.”

Ronald đặt tờ giấy lên bàn. Holmes và tôi cùng cúi xuống nhìn. Trên tờ giấy là một nét vẽ nguệch ngoạc, run rẩy của ba ký tự:

Θ Ι Λ

“Ký tự Hy Lạp.” Tôi nhận xét. “Theta, Iota, Lambda. Nó có nghĩa là gì?”

Holmes không trả lời ngay. Anh lấy chiếc kính lúp từ trong túi ra, chăm chú quan sát bản vẽ phác thảo của Ronald như thể muốn nhìn xuyên qua lớp chì để thấy lại vệt máu thực sự trên mặt bàn ở Richmond.

“Rất thú vị.” Holmes khẽ nói, đôi mắt anh lóe lên tia sáng sắc sảo của một con dã thú đã ngửi thấy mùi con mồi. “Nét chữ này không kết thúc bằng một dấu chấm, mà là một vệt kéo dài hướng về phía bên phải. Nó cho thấy người viết đã bị kéo đi hoặc mất đi chút sức lực cuối cùng trước khi kịp hoàn thành từ đó. Ngài Pendelton, ngài có chắc chắn không có ai chạm vào hiện trường trước khi ngài vẽ lại cái này?”

“Tôi thề là không, thưa ông Holmes. Tôi là người đầu tiên tiếp cận chiếc bàn.”

“Tốt lắm.” Holmes quay sang tôi. “Watson, có vẻ như chuyến dạo chơi buổi sáng của chúng ta sẽ không phải là một sự lãng phí thời gian nữa. Hãy chuẩn bị áo khoác dày và súng ngắn ổ quay của anh. Chúng ta sẽ đến Richmond ngay lập tức để xem Thanh tra Lestrade đã bỏ qua những gì trong căn phòng kín của mình.”