Mấy tỷ đệ nhà họ Khương từ nhỏ đã lăn lộn kiếm sống ở bến tàu, có chút quan hệ quen biết. Do Khương Định dẫn dắt, có thể mua được hàng tốt với giá ưu đãi, bản thân Khương Định cũng kiếm được chút tiền cò từ đó. Đừng thấy Khương Định trong mắt cha mẹ là đứa cà lơ phất phơ, chỉ dựa vào những trò đầu cơ trục lợi này, thường ngày Khương Định cũng sống khá sung túc.
“Vậy thì nó không có lộc ăn rồi.” Khương Thủy Sinh cười nói, hôm nay Khương Ninh mang về một món cá chép kho cạn, một món vịt om tía tô, một bát sườn cừu hầm bổ dưỡng, ngoài ra còn có bốn đĩa điểm tâm, chia cho các thẩm tử trong thôn hai đĩa, còn dư một đĩa bánh nhân táo đỏ, một đĩa bánh quế hoa đậu xanh, vô cùng thịnh soạn.
Một con cá chép lớn nguyên con, dùng thịt ba chỉ, nấm hương thái lựu, măng đông thái lựu kho chung với nhau. Biện Châu giáp Hoàng Hà, cá chép Hoàng Hà vào thời này vô cùng nổi tiếng.
Lấy cá chép Hoàng Hà đánh vảy, rút chỉ tanh, khứa trên lưng hai bên thân cá, ướp muối, tiêu, rượu cho ngấm gia vị. Thịt ba chỉ, nấm hương, măng đông đều thái hạt lựu, hành lá tỏi băm nhỏ, gừng thái lát.
Nhét vài cục nấm hương to bằng đồng xu và vài lát gừng vào bụng cá, chiên cá vàng hai mặt. Lấy chảo khác phi thơm hành, gừng, tỏi, thịt ba chỉ, nấm hương thái hạt lựu, măng đông thái hạt lựu, thêm một thìa tương lớn, chút xíu đường, muối, giấm trắng, tiêu nêm nếm, thêm chút nước, cuối cùng cho cá vào nồi, liên tục múc nước sốt bên dưới rưới lên cá, suốt quá trình không lật cá, đun lửa to cho đến khi gần cạn nước, vớt cá ra, rưới các loại rau củ lên mình cá.
Cuối cùng phi chút dầu hành, rưới dầu nóng lên cá, lập tức làm dậy lên tất cả hương thơm. Món này ngon nhất là khi vừa mới ra lò, lúc này tuy đã hơi nguội, nhưng vẫn thơm mùi tương đậm đà, rất đưa cơm.
Ngoài ra vịt om tía tô và canh sườn cừu hầm, cũng là món ngon. Nước dùng canh cừu ngọt lịm, thịt nhừ tơi, xé bánh nướng ngâm vào trong, lại rắc thêm chút tiêu, húp một ngụm ấm áp từ dạ dày lan ra khắp cơ thể.
Nói rồi, Phùng Quế Chi liền múc thêm một bát canh thịt cừu, cẩn thận rắc chút xíu hạt tiêu vào, húp một ngụm, mùi cay nồng xộc lên mũi, mùi thịt thơm phức, vô cùng thỏa mãn.
Khương Ninh nhìn thấy cảnh này, lại có chút thất thần.
Lúc cậu mới xuyên không đến đây, cũng từng nghĩ rằng mình có thể dựa vào kiến thức dự trữ của người xuyên không, làm ra vô số món ngon mà thời này không có, một bước xưng bá giới ẩm thực huyện Phù Thủy.
Nhưng càng tìm hiểu về thời đại này, tham vọng của Khương Ninh lại càng tắt ngúm. Người cổ đại thông minh hơn so với tưởng tượng của người hiện đại rất nhiều, nhiều món ngon người cổ đại không làm được, không phải là họ không nghĩ ra, mà là do thiếu nguyên liệu.
Ví dụ như món lòng lợn, thịt kho tàu mà người xuyên không nào cũng làm. Ai có thể ngờ được rằng, từ lúc xuyên đến nay Khương Ninh còn chưa từng nhìn thấy một hạt hoa hồi, bảo cậu làm món thịt kho tàu kiểu gì?
Tiêu, đinh hương và các loại gia vị cay nồng khác tuy đã du nhập vào Trung Nguyên, nhưng vẫn luôn chưa trồng thành công.
Tất nhiên rồi, đinh hương cho đến thế kỷ 21 cũng chưa được trồng ở trong nước, khí hậu của Trung Quốc cho dù là vùng gần nhiệt đới, cũng không thích hợp để trồng đinh hương.
Nói chung, hầu hết các loại gia vị cay nồng thời này đều là hàng nhập khẩu, chi phí vận chuyển cao, giá cả cực kỳ đắt đỏ, chưa kể đến việc còn liên quan đến độc quyền.
Thậm chí thời này còn có cách nói “một lạng tiêu đổi một lạng vàng”. Điều này tất nhiên là có phần thái quá, nhưng cũng có thể thấy giá trị của hạt tiêu không hề tầm thường.
Ở vùng Dự thời ngày nay (hiện đại), chỉ cần hai ba tệ là có thể uống một bất súp cay. Nhưng vào thời điểm này (cổ đại), súp cay phải cho tiêu, đó là một món ăn vô cùng xa xỉ.
Nhà họ Khương tuy mua nổi hạt tiêu, Phùng Quế Chi cũng vẫn không nỡ cho nhiều.
Vì vậy, khoan bàn đến chuyện Trung Nguyên bấy giờ vốn dĩ không thấy bóng dáng của hoa hồi, cho dù có, thì với giá cả của đủ loại gia vị hiện nay, làm món lòng lợn kho tàu cũng là một việc vô cùng không có lời, khó mà thu hồi vốn.