“Anh Thu…”
Bảo Thu đang trên đường tìm cô cả, thì thấy thằng Bờm từ xa chạy tới, thở hồng hộc.
“Chị Hạ Ngọc đang ở nhà em, chỉ dặn em báo cho anh một tiếng.”
Nghe thế, một thoáng nhẹ nhõm lướt qua trong lòng.
Cậu đặt tay lên vai thằng bé, dặn dò:
“Trông chừng… chị ấy… giúp anh. Chiều… xong việc… anh sang.”
Nó gật đầu.
Sau đó, Bảo Thu quay về căn nhà ba gian, vách đất mái tranh của mình. Trong bếp chỉ có gạo, ít măng rừng phơi khô treo trên xà nhà và mớ cá cơm khô. Thế cũng đủ cho một bữa trưa.
Cậu nhóm bếp, nấu vội nồi cơm, chan thêm bát canh măng với cá khô rang mặn.
Ăn xong, nghỉ một lúc, cậu lại ra đồng tiếp tục phần việc còn dang dở.
…
Trong khi đó, tại nhà ông trưởng thôn.
“Thị trấn? Cách đây bao xa ạ?”
“Chừng hai tiếng đi xe đạp.”
Chu Ngọc đáp, tay vẫn thoăn thoắt nhặt rau.
“Bình thường mỗi cuối tuần, nhà bác mới xuống trấn mua đồ một lần. Chứ lên xuống thường xuyên thì mệt lắm.”
Hạ Ngọc ngồi trên chiếc ghế tre, tay chống cằm, đôi mày lá liễu hơi cau lại.
Hai tiếng đi xe đạp? Một quãng đường dài đến mức cô không thể hình dung nổi. Ở thành phố, hai tiếng có thể đi từ đầu đến cuối, qua bao nhiêu con phố, bao nhiêu trung tâm thương mại. Còn ở đây, hai tiếng chỉ để… mua đồ ăn?
“Bác có số của những người bán đồ đó không ạ?” – Cô hỏi tiếp.
Bà gật đầu. Dù sao cũng đã bao năm sống ở vùng núi này, bà biết rõ những mối lái cần thiết. Thường thì trước khi xuống trấn, bà cũng gọi điện hỏi trước, đặt hàng để khỏi xuống rồi lại về tay không.
Nhờ số điện thoại Chu Ngọc đưa, Hạ Ngọc gọi mấy cuộc. Vấn đề thức ăn nhanh chóng được giải quyết: bắt đầu từ hôm nay, cứ đúng cuối tuần sẽ có người mang thức ăn tươi sống lên tận nơi.
Dĩ nhiên, với giá gấp đôi.
Cúp máy, thì bắt gặp ánh mắt thằng Bờm vẫn đang nhìn mình chằm chằm. Tạ Hoài và Chu Ngọc đã đi bận việc đâu mất, chỉ còn hai người trong nhà.
“Nhóc rảnh lắm sao?”
Thằng bé giật mình, gãi gãi đầu, ngượng nghịu:
“Dạ… anh Thu dặn em phải trông chừng chị…”
Hạ Ngọc nhướng mày. Trông chừng?
Cô quan sát thằng bé. Một đứa trẻ mập mạp, mặt mũi hiền lành, nhìn chẳng có vẻ gì là thông minh lanh lợi. Nhưng ánh mắt nó nhìn cô không hề có sự sợ hãi như hôm qua, mà là một sự tò mò hồn nhiên, xen lẫn chút ngưỡng mộ.
Có vẻ quan hệ giữa nhóc này với Bảo Thu có vẻ thân thiết hơn người bình thường.
Cô vỗ vỗ vào cái ghế bên cạnh, ra hiệu cho nó ngồi xuống.
“Không có việc gì thì kể tôi nghe chuyện anh Thu của nhóc đi.”
“Chị muốn nghe việc gì ạ?”
Nhớ lại điều mình còn băn khoăn từ sáng, Hạ Ngọc tò mò hỏi:
“Gia đình cậu ấy như thế nào? Sao cậu ta lại túng thiếu thế, chẳng lẽ không có trợ cấp sao?”
Thằng Bờm đảo mắt, nghĩ ngợi một lúc, rồi chậm rãi kể:
“Năm anh Thu 11 tuổi, ba ảnh đi rừng bị rắn độc cắn. Hồi đó ở đây còn chưa có trạm xá, phải đưa xuống tận thị trấn. Đến nơi thì độc cũng đã lan rộng nên không cứu được.”
“Một năm sau, mẹ anh Thu…”
Thằng bé chợt ngập ngừng, nhìn quanh như sợ có ai nghe lỏm. Xác định không có ai, nó mới thì thầm tiếp:
“Mẹ anh ấy vì túng quẫn, nên cũng tự sát ở khu rừng đó.”
Nó nói tiếp, giọng càng nhỏ hơn:
“Có mấy kẻ xấu trong thôn, nói mẹ anh ấy không tự sát, mà là chạy theo người đàn ông khác. Thi thể tìm được ở rừng là một người phụ nữ mất tích đã lâu…”
“Lúc đó em mới 6 – 7 tuổi, không rõ đã xảy ra những gì sau đó. Chỉ nhớ ba mẹ em cho anh ấy vay tiền lo ma chay, phía xã và bên trên cũng hỗ trợ, nhưng chẳng thấm vào đâu.”
Nói đến đây, giọng nó nghèn nghẹn, run run. Thằng bé vốn thật thà, tốt tính mỗi lần nhắc đến chuyện xưa đều như muốn khóc thay cho người kia.
“Thế là anh Thu phải ra ngoài lăn lộn kiếm sống.”
Hạ Ngọc vẫn không nói gì, im lặng nghe.
“Anh ấy chỉ mất gần ba năm đã trả xong tiền ma chay. Sau đó còn mở được một quán ăn ở dưới thị trấn với một người bạn – cái này là bí mật, người trong thôn không ai biết hết, chị giữ kín giúp em nha.”
“Vậy sao cậu ta còn ở đây làm thuê?” – Hạ Ngọc cắt ngang, khó hiểu.
Thằng Bờm lắc đầu:
“Em cũng không hiểu. Tại sao anh ấy vẫn nhất quyết sống trong căn nhà cũ? Ăn uống đạm bạc, làm lụng thuê mướn suốt ngày… chẳng tiêu xài bao giờ.”
Cô im lặng một lát, rồi hỏi tiếp:
”Chứng nói chậm của cậu ta là cũng từ chuyện năm đó?”
Thằng Bờm gật đầu.
Một lần hiếm hoi trong đời, Hạ Ngọc chăm chú lắng nghe chuyện đời riêng của một người khác. Có lẽ cũng bởi, ngoài việc này ra, cô chẳng còn thú vui nào trong buổi trưa rảnh rang ấy.
Thằng Bờm thấy cô im lặng, tưởng cô chán, liền ríu rít kể tiếp chuyện phiếm trong thôn: nhà nào hay cãi vã, ai là người tốt, ai là kẻ nên tránh. Nó nói rành rọt, lại dặn dò từng chút một như thể đã xem cô là chị trong nhà.
Đến lúc này, Hạ Ngọc mới hiểu vì sao Bảo Thu có thể thân với thằng bé này. Tính tình ngây ngô, chẳng hợp bạn bè đồng trang lứa, bọn trẻ trong làng thường trêu nó là “Bờm ngố”.
Nhưng người lớn thì lại thích gần gũi, vì nó hiền lành, dễ mến như một chú chim sẻ non.
…
Mãi đến tầm chiều muộn, khi ánh sáng cuối ngày bắt đầu sẫm màu, nhuộm cả khoảng trời một màu cam sẫm pha chút tím, Bảo Thu mới xong việc.
Cậu nhận tiền công từ chủ ruộng cùng một phần lúa thu hoạch được chia, gùi lên lưng quay về.
Dù mệt, cậu vẫn không quên phải đến nhà ông trưởng thôn để đón cô cả.
Vừa đến cổng, thằng Bờm đã chạy ra như một mũi tên. Khuôn mặt nó sáng rực khi thấy Bảo Thu, như nhìn thấy bồ tát đến cứu thế.
Cả buổi chiều bị Hạ Ngọc sai vặt, nó đã mệt bở hơi tai.
Lúc thì bị bắt quạt thay, lúc lại chạy đi lấy nước, lúc bị lôi ra chơi trò chơi mà chơi thì toàn thua, thua thì bị búng trán đau điếng.
”Anh Thu… cuối cùng anh cũng đến rồi!”
Bảo Thu nhìn thằng bé – tóc tai rối bù, mồ hôi lấm tấm trên trán, hai mắt đỏ hoe suýt khóc.
Cậu đưa tay xoa đầu thằng bé, không nói gì, nhìn về phía trong nhà.
Hạ Ngọc vẫn ngồi đó, phe phẩy cây quạt bồ hương. Vẻ mặt phụng phịu, như thể đang trách sao cậu đến trễ vậy.
Hai má hơi phồng như con cá nóc, đôi mày hơi cau, biểu cảm tủi thân chẳng khác nào cô vừa bị cả nhà trưởng thôn bắt nạt.
Bảo Thu nhìn gương mặt trắng nõn kia, đã bớt đỏ vì nắng trưa, giờ chỉ còn một chút ửng hồng trên má, cũng yên tâm hơn.
Sau đó, trong lòng chợt dấy lên một cảm giác lạ lẫm, khi được ai đó chờ để cùng nhau về nhà.
Họ chào tạm biệt nhà trưởng thôn rồi cùng quay về.
Trên đường, bầu không khí im lặng kéo dài. Chỉ có tiếng bước chân trên con đường đất, tiếng gió thổi qua những rặng tre hai bên đường, tiếng côn trùng bắt đầu rả rích gọi đêm.
Bảo Thu bất chợt lên tiếng:
“Cô cả, đừng… bắt nạt… Tạ Lâm, nó còn nhỏ…”
Tạ Lâm là tên thật của thằng Bờm.
Hạ Ngọc đang phe phẩy quạt bỗng khựng lại. Cô quay phắt sang, mắt mở to, giọng điệu cáu kỉnh nhanh chóng vang lên:
“Cái đồ nói chậm không có mắt! Khi nào thì cậu thấy tôi bắt nạt hả? Rõ ràng người bị bắt nạt là tôi!”
“Cả buổi chiều nay, tôi phải ngồi nghe nó kể chuyện nhà này nhà kia. Tôi còn phải chơi trò chơi với nó, mà nó chơi thua lại còn ăn vạ khóc…”
Bảo Thu im lặng.
Thấy tính khí đanh đá của cô cả nổi lên, cậu thức thời không lên tiếng nữa.
Một kẻ ít lời, một người lắm chuyện. Thế mà lại song hành dưới ánh hoàng hôn loang lổ cam đỏ, trở về cùng nhau.
Lần đầu tiên trong đời, Bảo Thu thấy con đường về nhà bỗng ngắn lại. Không còn nhạt nhẽo như thường ngày.
Nhưng cái cảm giác êm đềm ấy nhanh chóng tan biến khi trước cửa nhà xuất hiện một đống đồ chất chồng.
Đủ loại túi, đủ loại gói, xếp thành một đống lớn ngay trước hiên. Là số thực phẩm mà Hạ Ngọc đã đặt người ta mang từ chợ dưới thị trấn lên. Vì cửa khóa, họ chỉ biết để lại trước hiên rồi đi.
Bảo Thu đứng nhìn đống đồ, đầu bắt đầu nhức nhối.
Cậu lặng lẽ xắn tay áo, bắt đầu mang từng túi một vào bếp. Nhìn qua số lượng cũng đủ ăn cả tuần, thậm chí cả nửa tháng. Thịt, cá, trứng, rau, củ, quả, gia vị đủ loại.
Rõ ràng, cô cả chỉ tính chuyện “có nguyên liệu nấu ăn”, chứ chẳng hề nghĩ đến chuyện phải chế biến thế nào.
Bảo Thu đang cặm cụi sắp xếp đồ lên kệ bếp thì cảm nhận được một ánh mắt từ phía sau.
Cậu quay lại.
Hạ Ngọc đang dựa vào khung cửa, mắt nhìn cậu chăm chú, rồi hắng giọng:
“Bảo Thu. Cậu biết nấu ăn không?”
Đầu to khẽ gật.
“Vậy thì…” – Cô mỉm cười, nụ cười ngọt ngào nhưng đầy toan tính.
“Một ngày ba bữa, cậu nấu cho tôi đi.”
Mắt ai kia nhìn cô không chớp, như muốn nói “Tại sao?”.
“Tôi trả tiền cho cậu.”
“…”
Cậu chẳng nói được hay không, chỉ quay đi, tiếp tục dọn đồ.
Nhìn bóng lưng cao lớn đang cặm cụi với đống đồ, bỗng thấy “ưu điểm ít nói” của cậu khi trước, phút chốc biến thành “khuyết điểm” đáng ghét nhất trên đời.
Cô cũng không muốn đoán già đoán non, cái trò mệt mỏi ấy đã làm đủ nhiều ở thành phố rồi. Hạ Ngọc bỏ lên lầu tắm rửa, mặc kệ.
Trong đầu vốn định lát nữa xuống chiên tạm vài quả trứng lót dạ, mai tìm người nấu ăn sau. Ở cái làng này, chắc cũng có vài người phụ nữ biết nấu nướng chứ nhỉ?
Thế nhưng, khi tắm xong vừa xuống bếp, một mùi thơm ngào ngạt đã tỏa ra khắp nhà.
Trên chiếc bàn gỗ đơn sơ, đã bày sẵn cơm canh nóng hổi: trứng chiên thịt bằm, thịt ba chỉ rim màu nâu cánh gián bóng lưỡng, thêm bát canh rau xanh ngọt mát.
Mắt cô sáng rỡ, miệng nhỏ ngọt lại ngay lập tức:
“Ai da, bé vàng à, cậu làm tôi cảm động quá nha!”
Bảo Thu đang cúi xuống dọn nốt mấy thứ trong bếp, nghe vậy thì ngước lên. Một cặp mắt to tròn, vẻ khó hiểu hiện rõ trên gương mặt, như muốn hỏi: Bé vàng… là ai?.
Hạ Ngọc thản nhiên, không ngại ngùng đáp:
“Tên con chó Golden nhà tôi đấy.”
“…”
Bảo Thu im lặng nhìn cô.
Hạ Ngọc cũng nhìn lại, không hề có ý định giải thích hay xin lỗi. Với cô, đây là một lời khen. Con Golden nhà cô là giống chó thông minh, trung thành, đẹp nhất mà cô từng nuôi.
Năng lực khiến người ta không nói nên lời của cô cả quả là hiếm có. Nếu đổi lại là ai khác, chắc đã nghĩ cô đang mắng mình. Nhưng Bảo Thu thì không.
Bởi cậu hiểu, với tính tình bộc trực, kiêu kì kia, nếu muốn mắng, cô đã nói thẳng rồi, chẳng cần phí công vòng vo.
Phản ứng bình thản ấy của Bảo Thu lại càng khiến Hạ Ngọc thấy thú vị. Cậu thực sự giống hệt con Golden nhà cô – hiền lành, ngoan ngoãn, chịu đựng vô điều kiện.
Nhưng cô không biết rằng, những chú chó Golden không chỉ biết chịu đựng. Khi cần, chúng cũng biết bảo vệ chủ nhân của mình bằng cả mạng sống.
Và cô cũng không biết rằng, đằng sau đôi mắt trong veo, ít nói ấy, là một con người đã từng gánh chịu những mất mát mà cô chỉ vừa mới nghe kể.