Sáng sớm, người nhà họ Thẩm thu dọn chút gia sản chẳng còn lại bao nhiêu, cùng nhau xếp hàng chờ vào nội thành. Toàn bộ huyện Bắc Xuyên bị núi non chia cắt thành hình chữ Xuyên (川) khổng lồ. Nét phẩy bên trái là Tây ngoại thành, nét sổ ngắn ở giữa là nội thành, còn nét sổ dài là Đông ngoại thành. Nét phẩy ấy thông vào quan nội, cũng chính là con đường người nhà họ Thẩm đã đi tới đây. Phần lớn Tây ngoại thành là nơi ở của những tội dân bị lưu đày. Nội thành là nơi có huyện nha cùng chỗ ở của quan lại quyền quý và các nhà phú hộ tại Bắc Xuyên. Đông ngoại thành phần nhiều là dân bản xứ. Hai khoảng trống phía trên hình chữ Xuyên chính là các cửa ải quân lính phải trấn giữ, cũng là nơi có tường thành cần đám khổ sai tu sửa.
Thẩm Thanh Đường không ngạc nhiên khi thấy những người nhà họ Thẩm khác cũng tới xếp hàng vào thành, kể cả tổ mẫu chỉ còn thoi thóp nằm trên tấm ván gỗ rên hừ hừ. Tam phòng từ lâu đã sống dưới uy của Thẩm Kỳ Chi, vừa nhìn thấy ông ta liền đồng loạt bước lên chào hỏi. Chỉ riêng Thẩm Thanh Đường vẫn đứng yên tại chỗ, đến một tiếng đại bá cũng không gọi.
Thẩm Kỳ Chi quở trách Thẩm Dữ Chi: “Lão Tam, nhìn xem ngươi dạy dỗ con gái thế nào kìa! Không biết xấu hổ, chưa chồng mà đã có thai, thế mà còn mặt mũi sống trên đời sao? Sớm muộn gì các ngươi cũng bị nó liên lụy thôi.”
Thẩm Thanh Đường thản nhiên đáp: “So với đại bá thì con còn kém xa. Cùng lắm con chỉ liên lụy cha nương và ca ca, đâu giống đại bá, người bị liên lụy là cả ba chi tộc nhà họ Thẩm.”
“Ngươi…” Thẩm Kỳ Chi nghẹn lời, vừa thẹn vừa giận, còn muốn mắng tiếp thì đúng lúc cổng thành mở ra. Ông ta lập tức chẳng còn tâm trí đâu để tính sổ với Thẩm Thanh Đường nữa, chen theo dòng người đi vào trong.
Thẩm Thanh Đường đang mang thai, phụ mẫu và nhị ca sợ đám đông xô đẩy nên che chở cho nàng, đi sau cùng. Khi một nhà bốn người tới huyện nha, người nhà họ Thẩm đang chia nhau số bạc và vật tư vừa vay được. Những chi nhánh bên ngoài vốn đã có oán khí với Thẩm Kỳ Chi, nay cũng như nhà Thẩm Thanh Đường, vạch rõ ranh giới với đại phòng và nhị phòng để tự lập hộ riêng.
Đại phòng và nhị phòng người đông, vay được tròn một quan tiền đồng, còn có mười đấu lúa mì giống thích hợp gieo trồng vào mùa xuân năm sau. Theo đơn vị đo lường của Đại Càn, một quan tiền bằng một nghìn văn, còn một đấu lúa mì xấp xỉ mười hai cân theo cách tính thời nay. Người đại phòng và nhị phòng đang cãi nhau om sòm chuyện phân chia vật tư. Vừa thấy một nhà Thẩm Thanh Đường đến, họ lập tức im bặt, giả như chẳng có chuyện gì. Đại bá Thẩm Kỳ Chi còn cố ý làm bộ, bày ra dáng vẻ khinh thường không thèm giao thiệp.
Thẩm Thanh Đường thầm trợn mắt, kéo Thẩm Dữ Chi đang muốn bước tới, nhìn thẳng không chớp mắt mà đi vào nha môn. Người được vào ký tên điểm chỉ vay nợ chỉ có thể là gia chủ.
Chẳng bao lâu sau, Thẩm Dữ Chi mặt mày đau khổ đi ra: “Nếu chỉ vay bạc thôi, nhà ta chỉ vay được một trăm văn.”
“Cái gì?” Thẩm Thanh Đường gần như không tin nổi tai mình: “Một trăm văn?”
Theo giá cả ở Đại Càn, một trăm văn chỉ mua được chừng năm cân thịt heo. Đối với một gia đình bốn người sắp thành năm người, một trăm văn chẳng khác nào muối bỏ bể.
Lý thị không cam lòng, nhìn sang phía đại phòng và nhị phòng vẫn còn đứng đó chờ xem trò cười của họ: “Dựa vào đâu mà bọn họ được lĩnh hai quan tiền với mười đấu lúa mì?”
Thẩm Thanh Kha khẽ thở dài, khách quan nói: “Vì bọn họ đông người, mà lao động khỏe mạnh cũng nhiều.”
Đại phòng và nhị phòng cộng lại cũng gần ba mươi người, lại còn có mấy tên nô bộc. Những nô bộc sống sót qua quãng đường lưu đày phần lớn đều là tráng niên. Ngay cả đại bá và nhị bá cũng nhờ có tiền riêng giấu sẵn, dọc đường biết lo liệu nên ăn uống tốt hơn, chịu khổ ít hơn, nhìn còn cường tráng và trông trẻ hơn phụ thân nhà mình nhiều. Sương gió làm người ta già đi. Một nhà bốn người tam phòng ai nấy đều vàng vọt gầy guộc, phụ nhân đã chiếm phân nửa, trong đó còn có một người mang thai.