Cảm ơn nhũ mẫu vạn năng, chỗ nào dùng được là đem ra dùng.
Món sủi cảo này nói trắng ra chỉ là bột bọc nhân. Chỉ cần thả vào nước sôi mà không vỡ nhân thì coi như thành công. Người đông nên sức cũng đông, bốn người chẳng mấy chốc đã gói xong cả nồi sủi cảo rồi luộc chín.
Trong sơn cốc gần như không có gió, bên cạnh lại có suối nước nóng và đống lửa nên chẳng hề lạnh. Một nhà bốn người ngồi trên những khúc gỗ, mỗi người bưng một bát sủi cảo, quây quần bên nhau vừa ăn vừa trò chuyện dưới ánh lửa. Mùi thơm đặc biệt của hồi hương, hòa với cái giòn của tóp mỡ, lại được bọc trong lớp dầu đậm đà, vô cùng thơm ngậy.
Thẩm Thanh Đường cắn một miếng sủi cảo, thỏa mãn nheo mắt lại.
“Thơm thật!” Thẩm Dữ Chi vừa xuýt xoa vì nóng vừa muốn ăn tiếp.
Lý thị gật đầu: “Ừm, đây là bữa ngon nhất ta được ăn kể từ lúc bị lưu đày.”
Thẩm Dữ Chi vừa thổi sủi cảo vừa bóc mẽ bà: “Từ lúc nhà ta vào sơn cốc tới giờ, ngày nào bà cũng nói thế.”
Thẩm Thanh Đường nấu canh bột thì Lý thị bảo ngon nhất. Thẩm Thanh Đường nấu canh nấm, Lý thị vẫn bảo ngon nhất. Thẩm Thanh Đường nấu canh cá, Lý thị vẫn cứ tấm tắc. Hôm nay gói sủi cảo, vẫn lại là ngon nhất.
Lý thị cũng chẳng giận, còn ưỡn cổ lên, liếc Thẩm Dữ Chi một cái đầy làm nũng: “Ngày nào cũng ngon nhất thì sao chứ? Ta không biết các người nghĩ gì, chứ từ sau khi phân gia, ngày nào ta ăn cũng thấy ngon, ngủ cũng thấy yên ổn. Ngày mai chỉ cần may xong quần áo với chăn đệm, cuộc sống này còn sướng hơn thần tiên. Ở kinh thành trước kia, ta còn chẳng thấy thoải mái bằng bây giờ.”
Thẩm Thanh Kha gật đầu: “Con đồng ý với nương. Cuộc sống bây giờ tuy khổ thật, nhưng so với lúc còn ở kinh thành, ngày nào cũng phải sống trong một đại gia đình đầy mưu tính đấu đá, thì hiện tại vẫn tự tại hơn nhiều.”
Trước kia là mệt lòng, bây giờ là mệt thân. Nhà cao cửa rộng nhìn ngoài thì hào nhoáng, nhưng nhà nào mà chẳng có chuyện phiền lòng? Đại phòng, nhị phòng, tam phòng tranh quyền đoạt tiền. Chính thê với thiếp thất tranh sủng. Đích tử đích nữ và thứ tử thứ nữ nhìn nhau như kẻ thù.
Trước kia Thẩm Dữ Chi vốn cũng có hai phòng tiểu thiếp. Ngay ngày xảy ra chuyện, Lý thị nhân lúc hỗn loạn đã thả họ đi. Cả hai đều là nha đầu theo hầu của Lý thị, có khế bán thân trong tay bà. Cầm lại khế bán thân thì chính là người tự do, không còn tên trong danh sách bị lưu đày của Thẩm gia. Lý thị niệm tình gắn bó từ nhỏ nên không nỡ để hai người họ chịu cái khổ bị lưu đày này. Dù sao hai tiểu thiếp ấy đối với Lý thị cũng rất trung thành, sau khi bị Thẩm Dữ Chi thu vào phòng thì vẫn luôn tự giác uống thuốc tránh thai, không sinh ra đứa con nào khiến Lý thị phải phiền lòng. Thẩm Dữ Chi biết hết, nhưng từ trước đến nay cũng chẳng hề can dự.
Thẩm Thanh Đường ngẩng đầu nhìn vầng trăng sáng trên trời, cười nói: “Mới thế này thì đã là gì chứ? Những ngày tốt đẹp của nhà ta còn ở phía sau nữa! Chúng ta cùng nhau cố gắng, kiếm thật nhiều tiền, sau này làm nhà giàu số một Đại Càn!”
“Giàu nhất thì ta không dám nghĩ. Tâm nguyện lúc này của ta chỉ là nhà mình mau chóng dựng xong, không phải ngày nào cũng màn trời chiếu đất nữa.” Điều Lý thị mong mỏi rất đỗi giản dị.
Thẩm Dữ Chi gật đầu: “Đúng thế, xây xong nhà rồi lại trồng vài mẫu ruộng. Lúc rảnh câu cá một chút, cuộc sống như vậy cũng thong dong.”
Thẩm Thanh Kha đảo mắt nhìn cha mẹ, học theo Thẩm Thanh Đường ngẩng đầu nhìn trời: “Còn con thì tham vọng lớn hơn một chút.” Hắn dùng đũa chỉ hờ về hướng kinh thành: “Con muốn dựa vào bản thân mà quay lại kinh thành. Con muốn thi đỗ trạng nguyên!”
Thật ra luật Đại Càn không hề quy định rằng người từng bị lưu đày thì không được tham gia khoa cử nữa. Dĩ nhiên cũng chẳng nói rõ là được. Hơn nữa điều kiện ở Bắc Xuyên huyện quá khắc nghiệt, người bị lưu đày tới đây phần lớn đều không thích ứng nổi sự chênh lệch từ phú quý xuống nghèo hèn, hoặc u uất mà chết, hoặc bị đồng hóa, cuối cùng trở thành một kẻ bình thường giữa vô số dân chúng Bắc Xuyên. Chưa kể người bị lưu đày tới đây, chỉ riêng chuyện sống sót thôi đã khiến họ kiệt sức, còn đâu thời gian và tinh lực mà học hành đèn sách?