Kiếp trước, tai họa của hai ba con nhà họ Tư đều là do con người sắp đặt.
Nhà họ Tư có ơn với Kỷ Mộ, anh muốn ngăn chặn bi kịch này lặp lại.
Anh có thể chọn cách nhắc nhở Tư Trục Hành, nhưng Tư Trục Hành của kiếp này còn quá trẻ, Tư Định Uyên mới là lựa chọn tối ưu nhất.
Bạch Văn tinh thông nhiều loại nhạc cụ, yêu thích nhất là sáo, tiêu, cổ cầm và các nhạc cụ truyền thống, nhưng với tư cách là một thiên tài, piano và violin của cô cũng thuộc hàng xuất chúng trong giới.
Một thiên tài như thế, kiếp trước sau khi Tư Định Uyên qua đời, cô không bao giờ chịu biểu diễn trước công chúng nữa, khiến bao người phải tiếc nuối.
Tư Định Uyên không muốn bỏ lỡ bất kỳ buổi diễn nào của Bạch Văn, nên khi Tư Định Uyên mất đi, cô cũng chẳng còn can đảm để ngước mắt nhìn xuống khán đài thêm lần nào nữa.
Kỷ Mộ không hiểu được cái tình sâu nặng của người nhà họ Tư, thậm chí trong một thời gian dài anh cũng không hiểu nổi thiện ý của Tư Trục Hành, không hiểu tại sao cậu lại liều mạng kéo một người đang rơi xuống vực thẳm như anh lại.
Bất chợt, đèn dưới khán đài tắt lịm, ánh đèn trắng trên sân khấu trở thành vệt sáng duy nhất, mọi ánh nhìn đều đổ dồn về phía trung tâm.
Bạch Văn trong bộ váy tím thướt tha chậm rãi bước ra.
Đối diện với bóng tối dưới khán đài, mắt cô nhìn thẳng vào một vị trí cố định, khẽ mỉm cười rồi cúi chào, sau đó ngồi xuống bên cây đàn piano.
Ngón tay khẽ lướt, tiếng nhạc từ từ rót vào tai.
Người nghệ sĩ trên đài thanh tao nhã nhặn, đôi khi khẽ ngước mắt nhìn về một phương.
Có lẽ, cô đang nhìn người thương của mình.
Sau khi Tư Trục Hành mất, nội dung di chúc được luật sư công bố không chỉ làm chấn động các cổ đông và truyền thông, mà còn khiến chính người trong cuộc là Kỷ Mộ bàng hoàng.
Vì áy náy chuyện Tư Trục Hành đi công tác thay mình mà gặp nạn, Kỷ Mộ từng đề nghị chuyển nhượng toàn bộ cổ phần cậu để lại sang tên Bạch Văn.
Bạch Văn đã từ chối.
Ánh mắt cô bình thản, đẩy trả bản hợp đồng chuyển nhượng lại cho Kỷ Mộ và nói: “Di nguyện của người đã khuất chính là niềm luyến lưu cuối cùng của họ với thế gian này. A Hành coi cậu là tri kỷ, giao cổ phần cho cậu là vì nó tin cậu xứng đáng. Kỷ tiên sinh đừng phụ lòng em ấy.”
“Cậu xứng đáng”… ba chữ nhẹ nhàng ấy như gột rửa nửa đời xám xịt của Kỷ Mộ.
Khi Bạch Văn đứng dậy, nhìn chàng trai trẻ vẫn đầy vẻ hối lỗi, mắt cô thoáng hiện sự suy tư rồi an ủi thêm: “Kỷ tiên sinh, A Hành đối với cậu rất khác biệt. Em ấy mong cậu sống tốt hơn bất cứ ai, và cũng tin tưởng cậu hơn bất cứ ai.”
Có lẽ từ khoảnh khắc đó, Kỷ Mộ cũng đã có một lần tái sinh.
Buổi hòa nhạc kết thúc, Kỷ Mộ đưa Kỷ Hạnh ra xe của tài xế nhà họ Kỷ đã đợi sẵn.
Sau khi dặn dò vài câu, anh quay lại nhà hát.
Kỷ Hạnh định hỏi lý do, nhưng thấy dáng vẻ có chút vội vã của anh, cô nghĩ anh có việc hệ trọng nên vẫy tay chào tạm biệt.
Kỷ Mộ trở lại thính phòng, định tìm cơ hội gặp Tư Định Uyên, nhưng nhớ lại biểu cảm của Bạch Văn trên sân khấu, anh bình tĩnh lại và nghĩ có lẽ đôi vợ chồng này sẽ có kế hoạch riêng sau buổi diễn, không nên làm phiền.
Giữa lúc cảm xúc đang xáo trộn, một cậu bé mười một tuổi đột nhiên lao ra từ góc ngoặt.
Dù đã tan tầm nhưng trong sảnh không phải hoàn toàn vắng bóng người.
Một đôi vợ chồng dắt theo con gái nhỏ sáu tuổi có lẽ vì ngại đông đúc nên đã chọn rời đi cuối cùng.
Cô bé cầm quả bóng tròn chẳng may làm rơi, vội chạy theo lấy.
Cô bé chạy nhanh quá, cha mẹ không kịp để mắt tới, cậu bé mười một tuổi để tránh cô bé lao ra đột ngột nên đã né sang một bên, va vào tấm bảng quảng cáo.
Ngay khoảnh khắc tấm bảng sắp đổ ập xuống, Kỷ Mộ lao tới che chắn cho cậu bé dưới thân mình.
Một sức nặng đột ngột giáng mạnh xuống lưng anh.
Cha cô bé thấy vậy vội chạy lại đỡ lấy tấm bảng, cô bé bị dọa sợ khóc thét lên, được mẹ ôm vào lòng vỗ về.
Cảm nhận sức nặng vơi đi, Kỷ Mộ vội vàng kiểm tra cậu bé: “Văn Án, cháu có bị thương ở đâu không?”
Tư Văn Án không sao, cậu vừa hoàn hồn sau phen kinh hãi: “Chú ơi cháu không sao, chú có làm sao không ạ?”
Kỷ Mộ kiểm tra một lượt, thấy cậu bé không nói dối mới thở phào nhẹ nhõm.
“Chú ơi, sao chú biết tên cháu ạ?”
Rõ ràng, cậu bé đã nghe thấy Kỷ Mộ gọi tên mình.
Kỷ Mộ ngẩn người.
Đúng rồi, kiếp này anh không nên biết Tư Văn Án mới phải.
Kiếp trước sau khi Tư Định Uyên mất, Bạch Văn chìm đắm trong đau khổ một thời gian dài, Tư Văn Án phần lớn do Tư Trục Hành đưa đón đi học, cuối tuần cũng là cậu chăm sóc.
Khi Kỷ Mộ được Tư Trục Hành đưa về Sơn Thủy Vân Thiên, sau khi anh thực sự vượt qua biến cố, Tư Trục Hành thường xuyên đưa Tư Văn Án về nhà, nên Kỷ Mộ rất thân với đứa trẻ này.
Kỷ Mộ biết Tư Trục Hành đã tốn rất nhiều tâm huyết bồi dưỡng đứa trẻ này, bản thân anh cũng dành cho cậu bé sự quan tâm và thương mến không kém gì Kỷ Hạnh.
Sau này khi Tư Trục Hành qua đời, Kỷ Mộ đã thay cậu dạy bảo Tư Văn Án, đem hết những gì mình biết truyền thụ lại.
Từ năm Tư Văn Án mười bảy đến hai mươi hai tuổi, Kỷ Mộ luôn ở bên hỗ trợ.
Đến khi Tư Văn Án tiếp quản Hoa Chước thay anh, nhìn chàng thanh niên khí thế trên đài, Kỷ Mộ thực lòng cảm thấy an lòng.
Hai người họ vừa là cha con, vừa là thầy trò, lại là bạn bè.
Tư Văn Án trước mắt mới chỉ là một cậu bé mười một tuổi.
Lần đầu tiên thấy dáng vẻ này của cậu trong cả hai kiếp người, Kỷ Mộ thấy hơi lạ lẫm, anh mỉm cười: “Chú quen chú của cháu.”
“Hóa ra là vậy ạ, cháu cảm ơn chú nhiều.”
Tư Văn Án còn nhỏ nên không nghĩ ngợi sâu xa, nhưng lễ phép và giáo dưỡng thì không thiếu chút nào, khiến tâm trạng Kỷ Mộ tốt lên trông thấy.
Vừa nhắc Tào Tháo, Tào Tháo đến ngay.
Thấy cháu trai đi vệ sinh mãi không về, Tư Trục Hành bị anh cả sai đi tìm người.
Từ đằng xa, Tư Trục Hành đã thấy trên lưng áo sơ mi trắng của Kỷ Mộ loang lổ một mảng đỏ thẫm, một người đàn ông trung niên và người phụ nữ ôm con nhỏ đang không ngừng cúi đầu xin lỗi.
Thấy Tư Trục Hành đi tới, Kỷ Mộ khẽ xoay người che đi, nhưng tiếc là Tư Trục Hành đã nhìn thấy từ trước.
“Chuyện gì thế này? Lưng anh bị sao vậy?”
Tư Trục Hành chẳng khách khí chút nào, xoay người anh lại để lộ mảng đỏ trên lưng cho mọi người thấy, khiến đôi vợ chồng kia sợ tái cả mặt.
Tư Trục Hành định nổi nóng thì Kỷ Mộ đã lên tiếng trước: “Tôi không sao.”
Anh còn an ủi đôi vợ chồng đang hoảng hốt: “Trên tấm bảng có một miếng sắt nhỏ chưa được xử lý kỹ, chắc là bị quẹt trúng thôi. Tôi mặc áo trắng nên máu thấm ra nhìn hơi nghiêm trọng, anh chị đừng lo, chỉ là vết thương nhỏ thôi.”
Sau đó anh khéo léo nói họ rời đi.
Đưa cháu trai vào hậu trường xong, Tư Trục Hành dặn dò anh chị vài câu rồi quay lại tìm Kỷ Mộ.
Nhìn Tư Trục Hành còn giận hơn cả chính mình, Kỷ Mộ thấy hơi đau đầu.
Vết thương thực sự không nặng, nhưng Tư Trục Hành không nghe anh giải thích, cứ thế kéo anh đến phòng khám gần đó để bôi thuốc.
Đúng như Kỷ Mộ nói, vết thương chỉ là một vệt nhỏ, nhưng mảng đỏ trên lưng thì khá lớn.
Sau khi bác sĩ bôi thuốc xong rời đi, Tư Trục Hành đưa tấm ảnh vừa chụp rõ mồn một đến trước mặt Kỷ Mộ: “Đây, nhìn đi, khác gì miếng da lợn vừa bị trần nước sôi không.”
Tư Trục Hành rất bực, dù biết Kỷ Mộ là người bị hại, bản thân anh còn không giận thì cậu càng không nên giận.
Người này tâm địa tốt quá, nhưng lại xui xẻo hết chỗ nói, gặp nhau ba lần thì hai lần mang thương tích.
Nhưng cứ nghĩ đến một lần cứu mình, một lần cứu cháu mình, cậu lại chẳng thể buông lời trách móc.
Lần đầu tiên Kỷ Mộ thấy dáng vẻ quan tâm đầy cáu kỉnh này của Tư Trục Hành, anh vừa thấy buồn cười vừa nghĩ cách dỗ dành “vị tổ tông” này: “Tiếc quá nhỉ, da lợn thì ăn được, chứ da người thì không.”
Thấy anh còn đùa được, Tư Trục Hành bỗng nguôi giận, bình tĩnh lại cậu mới thấy hơi ngại, dù sao cũng không nên để người bị thương phải đi an ủi mình.
“Chuyện hôm nay cảm ơn anh nhé, cả lúc nãy tôi không kiềm chế được cảm xúc, xin lỗi anh.”
Kỷ Mộ ngẩn người trước hành động tự trấn an rồi cúi đầu xin lỗi nhanh như chớp của cậu, mắt thoáng qua vẻ bất lực: “Tôi biết vừa rồi cậu lo cho cháu trai nên mới sợ hãi như vậy, tôi hiểu mà. Có điều gia đình kia cũng bị dọa sợ không kém.”
Tư Trục Hành biết nhà kia không cố ý, nên lúc nãy cậu cũng không mở miệng làm khó họ.
Nhưng cậu thấy Kỷ Mộ nói chưa đủ, bèn bổ sung: “Còn cả anh nữa, anh cũng làm tôi sợ phát khiếp.”