Đến nội dung chính

Chương 10: E là có người không phục

admin 1.517 Chữ Cài Đặt

Khi Kỷ Mộ xuống lầu, bảo mẫu nhà họ Kỷ đã bắt đầu bưng món ăn lên bàn, trong khi những chủ nhân khác vẫn chưa thấy động tĩnh gì.

Dì Trương thấy Kỷ Mộ liền cười nói: “Mộ thiếu gia, hôm nay cậu vẫn là người sớm nhất. Thứ bảy sao không ngủ nướng thêm tí nữa, giò heo trong nồi phải hầm thêm hai mươi phút nữa mới được, hay cậu ra sân đi dạo một vòng đi.”

Kỷ Mộ tính tình tốt, đối đãi hòa nhã, chưa bao giờ làm khó bảo mẫu hay quản gia nên ai nấy đều rất quý anh.

Anh khẽ cười, giọng trầm ấm: “Không sao đâu dì Trương, cháu ngồi đây một lát là được, mọi người cứ bận việc đi đừng lo cho cháu.”

Dì Trương hớn hở đi vào, lúc sau bưng ra cho anh một đĩa bánh ngọt.

Kỷ Mộ dở khóc dở cười, hồi nhỏ anh xuống lầu sớm dì Trương cũng hay đưa đồ ăn cho anh, giờ vẫn còn coi anh như trẻ con mà dỗ dành.
Kỷ Kiến Sơn là người trọng quy tắc, trừ trường hợp đặc biệt, hễ đồ ăn đã dọn ra là mọi người phải có mặt đông đủ trên bàn.

Hồi mới về nhà họ Kỷ Kỷ Mộ không biết, xuống lầu thấy mọi người đã ngồi sẵn chờ mình, Kỷ Tuân tính khí nóng nảy liền mắng anh là đồ nhà quê.

Từ đó về sau anh luôn thói quen xuống sớm mười phút.

Kỷ Kiến Sơn trải qua hai đời vợ, có ba con trai và một con gái.

Bà vợ đầu là Sở Âm, kết hôn vì lợi ích kinh doanh, sinh ra con cả Kỷ Hồng và con thứ ba Kỷ Hằng.

Khi Kỷ Hồng bảy tuổi, Kỷ Hằng năm tuổi thì bà lâm bệnh qua đời.

Bà vợ thứ hai là Giang Du, là thanh mai trúc mã, ngoại tình với Kỷ Kiến Sơn sinh ra con thứ hai Kỷ Thuyên bằng tuổi Kỷ Hồng.

Sau khi Sở Âm chết không lâu, Kỷ Kiến Sơn rước Giang Du về làm đám cưới, để Kỷ Thuyên nhận tổ quy tông.
Ba năm sau đám cưới, Giang Du sinh thêm con gái út Kỷ Tuyền.

Lúc Giang Du vào cửa, Kỷ Hồng và Kỷ Hằng đã hiểu chuyện, cả hai đều không thích mẹ kế.

Kỷ Hồng lớn hơn, ở trong gia đình này đã sớm học được cách nhìn sắc mặt, thấy cha yêu chiều vợ mới nên dù ghét Giang Du và Kỷ Thuyên nhưng ngoài mặt vẫn không làm khó dễ.

Kỷ Hằng còn nhỏ, lại được Sở Âm nuôi chiều nên vui buồn đều lộ ra mặt.

Trong đám cưới lần hai của cha, Kỷ Hằng đã thẳng thừng mắng Giang Du là hồ ly tinh, khiến hai người mới ngượng ngùng không thôi.

Kỷ Kiến Sơn tưởng con trẻ dại dột, ngờ đâu càng lớn Kỷ Hằng càng phản nghịch.

Trưởng thành, Kỷ Hằng nhã nhặn tuấn tú nhưng tính tình lại vô cùng phong lưu, không ai quản nổi, là tay chơi có tiếng ở Ninh Thành, phóng túng đến mức chết rồi cũng không biết mình còn có đứa con trai là Kỷ Mộ.
Kỷ Hồng sau khi kết hôn có một con trai Kỷ Chu và một con gái Kỷ Hạnh, cả gia đình bốn người thường xuyên ở nước ngoài.

Ở lại trong biệt thự nhà họ Kỷ ngoài Kỷ Mộ ra thì chỉ còn lại nhánh của chú hai.

Sau khi món ăn lên đủ, Kỷ Tuân là người thứ hai xuống lầu.

Bàn ăn nhà họ Kỷ là kiểu tân cổ điển bằng gỗ đặc chạm khắc hình chữ nhật, hai người ngồi đối diện nhau, ở giữa ngăn cách bởi đĩa trái cây và thố canh.

Kỷ Tuân đi tới đối diện Kỷ Mộ, tiện tay kéo ghế tạo ra tiếng ma sát chói tai trên mặt đất.

Kỷ Mộ liếc anh ta một cái rồi im lặng.

Kỷ Tuân nhìn thấy vết thương trên trán Kỷ Mộ, cứ ngỡ đó là “chiến tích” của mình nên đắc ý mỉa mai: “Ồ, đây chẳng phải là Kỷ tổng thanh cao của chúng ta sao? Cứ tưởng cơm nhà họ Kỷ cậu ăn chán rồi chứ!”

Kỷ Mộ thần sắc bình thản, chẳng buồn để tâm đến lời anh ta: “Ăn chán hay chưa không quan trọng, bỏ đống tiền ra mua về, khoe khoang một vòng rồi phát hiện mình là kẻ trộm mới là chuyện nực cười.”

Nghe vậy, ngũ quan Kỷ Tuân vặn vẹo, mặt đỏ gay vì tức.

Tên này vốn không lo làm ăn, chỉ giỏi ăn chơi, chú hai không phải không đầu tư bồi dưỡng nhưng anh ta học cái gì cũng như gió thoảng qua tai, đuổi khéo không biết bao nhiêu gia sư, chú hai đành phải buông xuôi.

Nhưng bảo anh ta ác độc thì cũng không hẳn, cùng lắm là nghịch ngợm quá đà, những việc vượt quá giới hạn thì cái gan và cái não của anh ta không làm nổi.

Kỷ Tuân định nói tiếp thì thấy các bậc tiền bối đang lần lượt đi tới nên bắt đầu giả vờ ngoan ngoãn.

Kỷ Kiến Sơn đã ngoài bảy mươi, thời trẻ thủ đoạn cứng rắn, tính cách độc đoán, ở nhà cũng là người nói một là một hai là hai.

Sau khi ngồi xuống, ánh mắt ông lướt qua Kỷ Mộ và Kỷ Tuân, lạnh lùng nói: “Ăn cơm đi, đừng nói chuyện phiếm.”

Nhà họ Kỷ có quy tắc: Khi ăn không nói.

Gần cuối bữa, Kỷ Kiến Sơn bỗng nhiên lên tiếng: “Tiểu Chu sắp về rồi, nó về sẽ vào công ty. Thằng hai, sắp xếp cho Tiểu Chu vào bộ phận vận hành.”

Ánh mắt Kỷ Thuyên vốn đang thản nhiên bỗng chốc trở nên sắc lạnh, nhưng rất nhanh đã che giấu đi.

“Vâng, nhưng thưa cha, Tiểu Chu từ nhỏ thể trạng yếu, lại chưa từng quản lý công ty, có nên để nó rèn luyện một chút không? Nhảy thẳng vào làm lãnh đạo e là có người không phục.”

Kỷ Thuyên nói vậy không phải không có lý do.

Kỷ Kiến Sơn trị gia nghiêm mà quản lý công ty càng nghiêm hơn.

Con cháu nhà họ Kỷ khi mới vào công ty đều phải rèn luyện ở cơ sở một hai năm, vị trí có thể khác nhau nhưng chưa từng có tiền lệ nhảy thẳng vào cấp cao.

Trước khi vào Quan Ích, Kỷ Mộ cũng từng ở cơ sở, đồng nghiệp xung quanh thậm chí còn không biết anh là người nhà họ Kỷ.

Kỷ Tuân khá hơn chút, vào làm tổ trưởng nhưng cũng chẳng phải vị trí quan trọng gì, cũng coi như là cấp cơ sở.

Kỷ Kiến Sơn không trả lời Kỷ Thuyên mà quay sang hỏi Kỷ Mộ: “Tiểu Mộ, con thấy sao?”

Kỷ Kiến Sơn tuy thời trẻ không chung thủy và không yêu người vợ đầu, nhưng lại cực kỳ coi trọng huyết thống, trọng sĩ diện, mang nặng tư tưởng đích thứ cổ hủ.

Trong lòng ông, hai con trai do bà vợ đầu sinh ra mới là những người thừa kế gia tộc ưu tiên hàng đầu.

Kỷ Hằng phong lưu phóng túng lại chết sớm nên không cần bàn đến.

Con cả Kỷ Hồng vốn là người thích hợp nhất nhưng lại tầm thường, sợ vợ, không gánh vác nổi công ty, vì thế ông đã bồi dưỡng con trai của Kỷ Hồng là Kỷ Chu thành người thừa kế từ khi còn nhỏ.

Trong mắt Kỷ Kiến Sơn, xuất thân của Kỷ Mộ vốn chẳng mấy vẻ vang, thế nên ông chưa từng có ý định giao phó công ty cho anh, cùng lắm chỉ để anh đứng bên cạnh phò tá.

Chỉ là cả hai kiếp người Kỷ Kiến Sơn đều không ngờ tới, tài năng kinh doanh của Kỷ Mộ lại xuất chúng đến vậy.

Người bất mãn nhất với sự sắp xếp này chính là chú hai Kỷ Thuyên.

Trong ba người con trai của Kỷ Kiến Sơn, nếu chỉ luận về năng lực, Kỷ Thuyên có phần nhỉnh hơn.

Thêm vào đó, ông ta quanh năm sống ở nhà cũ, chưa từng làm trái ý Kỷ Kiến Sơn, danh tiếng và mạng lưới quan hệ trong công ty cũng không tồi, vì vậy ông ta hoàn toàn có quyền không hài lòng.

Kỷ Chu, với tư cách là người thừa kế được Kỷ Kiến Sơn nhắm chọn ngay từ đầu, sở hữu thiên tư thông minh, khiêm tốn nhưng không thiếu những thủ đoạn cứng rắn, thực sự xứng đáng là người kế vị tiếp theo của nhà họ Kỷ.

Điểm yếu duy nhất chính là thể trạng Kỷ Chu quá yếu ớt.

Kỷ Mộ sớm đã biết ông nội thiên vị.

Thấy uy tín của chú hai và chính mình trong công ty ngày càng cao, ông cụ làm sao có thể để Kỷ Chu bắt đầu học việc từ con số không được.

Con mắt của ông cụ rất tinh tường, ông cảm thấy Kỷ Chu không cần phải rèn luyện từ cơ sở thì đúng là không cần thật, bởi từ nhỏ đã được dốc lòng bồi dưỡng, năng lực tự nhiên không hề tầm thường.