Cẩu Nhu cưỡi ngựa đi nhặt con sẻ về, vừa đi vừa tán thưởng người chế nỏ: “Đại nương tử, Lưu Tư mã thương dân như con, lại tinh thông binh pháp, ta thấy nên mời nàng về Quảng Lăng, cho giữ chức tướng quân trấn thủ tiền tuyến mới phải.”
“Lưu Tư mã là trung thần, trừ khi cữu cữu ta thoái vị hoặc bệnh nặng, bằng không nàng ấy tuyệt đối không đổi chủ.”
Nguyên Trinh cẩn thận rút mũi tên từ xác con chim, nhét lại vào ống tên. Con sẻ thì để tử sĩ treo trên ngựa, đến khi nghỉ ngơi thì nướng ăn. Nàng đếm, trong ống còn mười chín mũi, dùng một là mất một.
Cẩu Nhu tiếc đứt ruột, kéo cương than thở: “Phí quá, tiếc quá!”
Loạn thế thì quý nhất là trung thần. Lưu Chỉ lại chẳng những trung, mà còn mưu lược hơn người. Chỉ vì bọn họ đến chậm một bước mà đành bỏ lỡ.
Nguyên Trinh thu lại nỏ tên, nét mặt tươi rói đầy toan tính: “Không cần tiếc, ta viết thư ấy là gửi cho cữu. Để cữu ta đọc xong rồi lập tức sai người đưa nàng ấy đến chỗ ta làm việc. Có cữu ra lệnh, nàng ấy dám không đến à?”
Ngoại thành Đồng Quan, trời xanh thẳm, gió lộng càn khôn.
Gió cuồng bạt loạn, thổi tung cửa lều da dê. Bên trong, một nam nhân chừng hơn ba mươi tuổi vừa rút dao từ ngực một bà lão, máu phun ào ạt, ướt cả lớp thảm lông dưới chân, thậm chí còn bắn lên mấy vệt đỏ trên cửa lều.
Bà lão mặc áo dài cổ tròn, dáng vẻ nho nhã, chẳng giống dân sống ngoài ải. Bà ta ôm lấy vết thương đang tuôn máu nơi ngực, ánh mắt đầy vẻ không thể tin nổi. Nam nhân kia lại lạnh lùng đá một cước, bà ta ngã vật xuống đất, lập tức tắt thở.
Đoạn Nha hừ lạnh một tiếng. Mắt hắn đen ít trắng nhiều, sau khi giết người cũng không thèm chớp mắt, còn nhàn nhã cúi người, dùng chính áo bà lão để lau sạch máu dính trên đoản đao.
Lúc này, phó tướng Mục Dung Khất Trân sải bước vào lều: “Vương tử, Tư Lệ giáo úy của triều Chu lại phái người đến, nhất định đòi diện kiến Đại Thiền Vu.”
Vương trướng có người chết thì cũng không lạ, nhưng khi trông rõ gương mặt người nằm dưới đất, Mục Dung Khất Trân liền biến sắc: “Vương tử! Ngài sao lại dám giết Hoàn y công?!”
Đoạn Nha lạnh nhạt: “Giết thì giết, thì sao?”
“Hoàn y công là muội muội ruột của Tư Lệ giáo úy! Chính là người mà Hoàn đại nhân đưa đến để chữa bệnh cho Đại Thiền Vu. Giờ bà ấy chết rồi, chúng ta lấy gì mà lừa Tư Lệ giáo úy mở cổng Đồng Quan?!”
Đoạn Nha mặt đầy sát khí. Hắn giày bọc sắt, không nói không rằng liền dùng chân đạp tới, giẫm lên mặt thi thể Hoàn Linh Uyển đến nát bấy, sau đó còn nắm chòm râu của mình kéo mạnh một cái, nghiến răng nói: “Đại Thiền Vu chết là do con đàn bà Trung Nguyên này hại! Nàng ta phải chết theo!”
Hắn lại quét mắt về phía Mục Dung Khất Trân, ánh mắt lạnh như băng, tàn nhẫn như con sói đói nhiều ngày trên thảo nguyên: “Đường lên trời của Đại Thiền Vu vẫn còn thiếu người hầu. Nếu ngươi còn dám lắm lời…”
Hắn nhếch mép, giọng độc đến thấu xương: “Thì đi cùng ả, làm người dắt đường cho Đại Thiền Vu!”
Mục Dung Khất Trân bất giác rùng mình. Tuy hắn thừa hiểu rõ Vương tử Đoạn Nha bởi tranh đoạt quyền sở hữu Tiêu Bát Nương với Đại Thiền Vu mà sinh hận, mới ra tay giết chết Đại Thiền Vu đang bị thương kia nhưng giờ đã không còn đường quay lại.
Hoàn y công chẳng qua là vật hy sinh thế mạng. Bởi nếu đổ tội cho một nữ tử Trung Nguyên mưu hại Đại Thiền Vu, càng dễ khiến các bộ tộc Khương nổi trận lôi đình.
Chuyện đã đến nước này, hắn không thể nói gì hơn, chỉ đành theo lệnh của Đoạn Nha, lôi thi thể Hoàn Linh Uyển đi chôn.
Đoạn Nha gọi giật hắn lại: “Ngươi đi báo với sứ giả Trung Nguyên rằng, Đại Thiền Vu sau khi nghe danh các mỹ nhân họ Tiêu, ngoài Tiêu Bát Nương ra còn muốn luôn sáu vị Khôn Trạch khác toàn bộ đều phải dâng lên, nhưng Tiêu Bát Nương thì phải lập tức đưa vào vương trướng, không được chậm trễ!”
“Hơn nữa, vết thương chí mạng của Đại Thiền Vu là do thủ vệ Đồng Quan Lư Du gây ra. Bảo Tư Lệ giáo úy lập tức điều hắn đi nơi khác, để chúng ta dễ bề đánh thành.”
“Chuyện thành rồi, người Khương chỉ cần Khôn Trạch và châu báu trong Trường An. Đất đai và Khôn Trạch còn lại, tất cả sẽ để cho Tư Lệ giáo úy.”
Chắc là sợ bị bắt đi làm người dẫn đường cho Đại Thiền Vu dưới hoàng tuyền, nên Mục Dung Khất Trân nào dám cãi lời, vâng dạ răm rắp. Truyền thì cứ truyền, còn Tư Lệ giáo úy có chịu nghe hay không đấy không phải việc của hắn.
Chỉ có điều trong lòng hắn vẫn băn khoăn không dứt vì sao cả Đại Thiền Vu lẫn Vương tử đều như bị sắc đẹp mê hoặc đến mất trí? Mới nhìn thấy bức họa của Tiêu Bát Nương và mấy rương châu báu từ sứ giả mang tới, đã nổi giận đùng đùng, dấy binh đánh thành.
Tiêu Bát Nương cũng đâu phải mọc thêm đôi cánh, chẳng qua chỉ là hai mắt một mũi như bao người, lại có thể đẹp đến mức thần tiên hạ phàm?
Sứ giả Trung Nguyên thì tâng bốc không biết mệt, bảo môi nàng còn mê hoặc hơn rượu sữa ngựa, dung nhan rực rỡ đến độ khiến người đối diện cũng phải xấu hổ cúi đầu, có kẻ thậm chí chỉ liếc một cái đã lập tức che mặt bỏ chạy đến Mục Dung Khất Trân nghe cũng thấy tâm hồn ngây ngất, miệng khô lưỡi đắng.
Hắn thầm quyết tâm, đợi đến khi vào được thành Trường An, nhất định sẽ tự tay bắt một Khôn Trạch họ Tiêu về làm tỳ nữ, để nếm thử phúc khí nhà quyền quý Trung Nguyên một phen.
Hoàng hôn buông xuống, nhuộm đỏ cả trời Tây.
Rừng rậm dưới ánh tà dương nhuộm thành một màu đen sẫm, trời không mưa cũng chẳng gió, thế mà trong rừng bỗng ào ào một trận vỗ cánh hỗn loạn một đàn đại nhạn từ trong rừng lao ra như bầy ong vỡ tổ.
Chúng giương cánh bay lên, kêu thảm thiết, loạng choạng rối rít rõ ràng đã sa vào bẫy thợ săn.
“Véo!”
Nguyên Trinh đang nghịch cây nỏ trong tay, thấy đàn nhạn phóng ra, mắt liền sáng rực, nhấc tay giương nỏ vút một tiếng, con đầu đàn béo múp đã rơi bịch xuống đất.