Nói xong liền muốn gọi tử sĩ mạnh mẽ xông cung mở cửa.
“A Nhu, đừng manh động.”
Nguyên Trinh bấy giờ mới lên tiếng, giữ nàng lại. Nàng quay bánh xe bốn bánh, một mình tiến vào gian nội thất. Đó là một tịnh thất nhỏ, thờ một pho tượng Quan Âm bằng bạch ngọc, thường ngày mỗi khi tâm thần hỗn loạn, nàng lại vào đó niệm Phật, ngồi lặng một canh giờ.
“Trời ơi, bây giờ còn lễ Phật cái gì nữa chứ…”
Cẩu Nhu vừa muốn đuổi theo thì thấy Nguyên Trinh rất nhanh đã quay trở lại, trên đầu gối là một tấm tăng y màu nâu cao đến nửa người chính là “Tăng-già-lê”, áo pháp mà chư tăng ra vào hoàng cung thường mặc.
Nàng giải thích với Tiêu Trí Dung: “Đông cung thường có tăng nhân qua lại, tối nay cũng còn hơn mười vị ở lại vì cầu phúc cho Tiên vương hậu. Muốn ra khỏi cung, thì cho tử sĩ cạo trọc đầu, giả làm tăng nhân, là có thể đường đường chính chính mà đi.”
“Còn về ngựa…” Nguyên Trinh ngẩng đầu nhìn Tiêu Trí Dung, giọng bình tĩnh mà chắc nịch: “Quốc tướng đã hoạt động ở Quảng Lăng nhiều năm, vài con ngựa chắc hẳn không thiếu?”
Thế là bài toán thoát cung và ngựa thồ đã được giải quyết toàn bộ, dường như cổng thành Trường An nguy nga đã hiện ra ngay trước mắt.
“Điện hạ đúng là mưu tính như thần!”
Cẩu Nhu vỗ đùi đánh ‘bộp’ một tiếng, trong cung chẳng thiếu gì tăng y mộc ngư giày vải, đủ để cải trang. Nàng hưng phấn thốt: “Quả nhiên là câu ‘hữu nhân tất hữu quả’ trong Phật kinh! Là nhờ điện hạ ngày thường nhất tâm hướng Phật nên mới gieo được thiện nhân, giờ gặp hiểm mới dễ bề tháo gỡ!”
Lo đống áo nặng ép vào chân Nguyên Trinh, nàng vội ôm cả vào lòng: “Nô tì lập tức đi giục bọn họ thay đồ!”
Tiêu Trí Dung âm thầm gật đầu tán thưởng, rồi quay sang hỏi: “Thần có một trang trại ở ngoại thành, trong đó có mấy con tuấn mã, điện hạ cứ tùy ý chọn. Nhưng vừa nãy điện hạ còn chần chừ chuyện đi Trường An, vì sao giờ đã hạ quyết tâm?”
*
Khói trầm lượn lờ, lò hương che khuất bóng dáng hai người trong điện, ánh sáng dịu dàng từ đèn treo dưới tán lọng chiếu lên gương mặt nhợt nhạt của nàng.
Thiếu nữ mặc cung trang hoa lệ ngồi ngay ngắn trong xe bốn bánh, lưng thẳng như tùng, trong cung điện trống trải chỉ vang vọng giọng nàng thanh cao rõ ràng: “Ta đã cầu Quốc tướng chỉ cho đường sống, nghĩa là đã quyết đem thân phận này ký thác vào người. Nếu trước xin giúp, sau lại hối hận, ấy là hành vi tiểu nhân.”
“Huống hồ, Quốc tướng khi nói đến Đại Tư Mã đã đem hết lòng dạ cho ta xem, ta tuy còn nghi ngờ, nhưng cũng chẳng phải kẻ không biết phân biệt trung gian, chẳng hiểu lòng người.”
Nguyên Trinh đưa tay gầy gò lên thành xe, chậm rãi đẩy đến trước mặt Tiêu Trí Dung, ánh mắt kiên định không né tránh, chân thành đối diện: “Đường đến Trường An xa xôi, hiểm nguy trùng trùng, lần đi này sống chết chưa biết. Quốc tướng lớn hơn ta mười tuổi, xưa nay ta vẫn coi người như thầy. Nay xin người giải cho ta một câu nghi vấn, dù có chết dọc đường ta cũng không ân hận.”
Có lẽ vì Nguyên Trinh vừa từ Phật đường đi ra, Tiêu Trí Dung thoáng ngửi được trên người nàng một làn hương nhang thanh thoát như có như không. Đây là lần đầu tiên hai người đứng gần nhau đến vậy, cho dù trước mắt là đại họa diệt môn, Tiêu Trí Dung vẫn không cảm nhận được chút bối rối hay hoảng hốt nào từ nàng, chỉ thấy một sự tĩnh lặng như bị hương trầm vây bọc.
Những lời nói chân thành cùng dung mạo điềm tĩnh kia, chẳng khác nào một học trò đang thành tâm cầu đạo nơi lương sư, chứ không phải một vị vương nữ đang cận kề quốc phá gia vong.
Thái Sơn sụp trước mặt mà mặt không biến sắc, hoặc là đã luyện được bản lĩnh đứng vững trong biến loạn, hoặc là kẻ ngu không biết sợ. Sau bao năm quan sát, Tiêu Trí Dung tin chắc Nguyên Trinh là loại người đầu tiên.
Nàng không tự chủ được mà đứng dậy, bước tới cạnh Nguyên Trinh, không còn giữ lại gì nữa, giọng kiên định: “Đại Chu nhiều năm binh loạn, ngoài có dị tộc như Khương, Tiên Ty rình rập, trong thì kinh thành Trường An chỉ như xương gà bỏ thì tiếc, giữ thì vô vị. Mà phía nam Trường Giang chưa từng bị binh lửa xâm phạm, vật tư phong phú, hiện giờ chỉ có thể nam thiên, dựa vào hiểm trở của Trường Giang, tích lũy thực lực, mới mong gây dựng đại nghiệp.”
Giọng nàng mang theo ba phần tự phụ, nhưng rất nhanh lại thoáng thất vọng. Mới ngoài ba mươi, gương mặt Tiêu Trí Dung đã phủ một tầng tang thương: “Đại Tư Mã cố chấp tự phụ, dưới trướng có nhiều tài thần nhưng không chịu nghe lời. Năm xưa thần ở bên cạnh người, thường dâng kế sách, mà đa phần đều chìm không sủi tăm. Gần đây nghe nói người có thay đổi, nhưng cũng chỉ chịu nghe mấy lời của Bát Nương thôi.”
“Thần từng dâng kế nam thiên lên Đại vương, Đại vương coi như châu báu, thậm chí còn đích thân cùng Tạ đại nhân xuất chinh đánh Dương Châu. Chim lành chọn cành đậu, hiền thần chọn chủ mà phụng. Nay thần phò tá Đại vương và điện hạ, như cá gặp nước, vừa giúp nhà Chu giữ chính thống, vừa không phụ tấm lòng son của thần. Chính vì vậy thần mới vì Đại vương mà lo lắng khôn nguôi.”
Lan Lăng Tiêu thị vận thế chưa dứt, Tiêu Trí Dung thời tuổi trẻ cũng từng mong vì nhà họ Tiêu mà tranh bá thiên hạ, đáng tiếc nàng không thuộc dòng chính, mà Tiêu thị lại chẳng có minh chủ. Tài không gặp thời, nàng quay sang kết giao với Quảng Lăng Vương vừa có danh vọng, lại thân thiết với Tả Phó Xạ Tiêu Thiều quả nhiên chủ tôi tâm đầu ý hợp, nàng được trọng dụng.
Lời nàng nói khiến trong lòng Nguyên Trinh cũng cuồn cuộn dâng trào, chỉ tiếc bản thân không thể đứng thẳng lên, bằng không ắt đã hành đại lễ trước Quốc tướng.
“Quốc tướng đã dám đem thân phận và tâm ý gửi gắm vào ta, thì ta cũng quyết không phụ Quốc tướng!”
Người đời vẫn nói, hiền thần khát vọng gặp minh quân. Nhưng thử hỏi, có vị quân chủ nào không mong có được hiền thần trung nghĩa? Không muốn giữa loạn thế xoay chuyển càn khôn?