Chiếc vòng tay bằng gỗ được bà Nguyệt đặt trên bàn tan thành bụi biến mất trong không khí vào khoảnh khắc Hà rời khỏi thế gian, bước lên đường luân hồi.
Bà Nguyệt giật mình thức giấc, cảm giác có chuyện đã xảy ra, nên ngồi dậy.
Trong phòng khá tối, bà với tay bật đèn. Liếc mắt nhìn lịch trên bàn đèn, bà nhớ ra, đã gần đến thời điểm Hà phải rời khỏi thế giới này.
“Không biết cậu ta đã đi chưa?”
Bà lẩm bẩm, bước xuống giường tìm đến chỗ đặt chiếc vòng.
Sau khi giúp Hà lấy kinh từ chỗ Thầy, bà Nguyệt quyết định đem vòng tay từ hộp ra đặt ở nơi dễ thấy để tiện cho việc quan sát. Theo trí nhớ bà đi đến chỗ bàn nhỏ đặt ở góc phòng, sững sờ khi không thấy vòng tay đâu nữa.
Bà tìm kiếm trong các ngăn tủ một lần, xác nhận rằng nó không còn tồn tại, khi này mới bần thần tự nói: “Xem ra là đi rồi.”
Bà xấp tay cầu nguyện cho linh hồn lên đường bình anh. Trở lại giường bà không tài nào ngủ được khi nhớ đến con trai.
Dù bà và Hà đã soạn ra một kịch bản hoàn hảo, nhưng vẫn còn một thứ ở lại khi Hà đi, đó là bức tranh. Hiện giờ Hải chọn sống vì Hà, nhưng một khi biết được Hà không cần anh ở lại lo nhang khói, công ích cho mình có lẽ Hải sẽ đi theo cậu ấy ngay.
Bà Nguyệt ngồi bật dậy: “Thế này không ổn, phải tìm cách lấy lại bức tranh.”
Bà nhìn về cái bàn nhỏ nơi từng để vòng tay, một ý nghĩ lóe lên.
Khoảng tám giờ sáng, bà gọi người lái xe đưa mình lên Đà Lạt. Tới chập choạng bà đứng trước cổng căn biệt thự trắng, không có ánh đèn tỏa ra từ bên trong.
Bà nhấn chuông cửa, nhưng không có ai ra mở. Bà không đi vẫn kiên trì bấm mãi, cho đến khi cửa chính mở ra.
Hải tiều tụy bước ra, tóc tai bù xù. Lúc thấy bà anh mệt mỏi hỏi: “Mẹ đến đây làm gì?”
Bà nhíu mày: “Tình trạng này là sao?”
Hải không kiên nhẫn: “Nếu không có chuyện gì quan trọng mẹ về đi.”
Bà Nguyệt bực mình: “Về cũng được nhưng phải trả đồ lại cho mẹ.”
Hải khó hiểu: “Mẹ để quên đồ ở đây sao?”
“Bức tranh mà mẹ tặng cho cậu ta, mau trả lại đây!”
Hải khó chịu, món quà của mẹ là niềm hạnh phúc mà Hà rất trân trọng, sao bây giờ bà ấy lại đòi: “Mẹ đã tặng cho Hà rồi sao còn đòi lại?”
“Cậu ta lấy lại vòng tay tặng mẹ, chứng tỏ không muốn giao hảo với mẹ nữa, vậy tại sao mẹ phải để bức tranh quý hóa của mình ở chỗ cậu ta chứ!”
Giọng bà cực kỳ gay gắt.
Hải ngây ngốc nhìn bà. Sau đó nhớ lại lời Thầy từng nói. Linh hồn rời đi, đồ của họ cũng sẽ tan biến. Anh đã chuẩn bị tủ và hộp làm từ gỗ cây liễu loại được cho là chứa âm khí mạnh để bảo quản đồ có liên quan đến Hà nên mới không mất, còn mẹ bà chẳng biết điều này nên mất vòng tay.
“Không được.” Hải không muốn trả. “Bức tranh đó là của Hà, mẹ có đòi kiểu gì con cũng không trả.”
Bà Nguyệt tức, lao lên đẩy con trai ra xông vào nhà. Sức khỏe của Hải không tốt do đau buồn quá độ, nên hơi choáng khi bị xô đẩy đột ngột, chờ tới lúc anh ổn định được thân mình thì mẹ đã lên cầu thang sắp vào phòng ngủ.
Hải hoảng hốt đuổi theo: “Mẹ không được.”
Bà Nguyệt lao nhanh vào phòng ngủ, liếc mắt thật nhanh. Vị trí bức tranh để rất dễ thấy, bà chạy đến cầm lấy.
Hải vừa vào phòng liền thấy mẹ đang cầm bức tranh. Anh vươn hai tay muốn lấy lại nhưng sợ làm mẹ đau.
“Mẹ đừng thu hồi món quà của Hà. Anh ấy đi rồi, vì là một linh hồn nên khi rời đi chiếc vòng tay của mẹ mới biến mất.”
Bà Nguyệt giả vờ sửng sốt, không tin hỏi: “Con sợ mẹ đem bức tranh đi nên nói dối à, con ma đó sao có thể rời đi dễ dàng như vậy?”
Hải cam đoan, thậm chí còn đưa cao tay thề để bà tin lời mình. Nhìn con trai đau buồn đến mức gầy hẳn một vòng, mặt mũi xanh xao, bà thở dài.
“Mẹ không đem đi, thậm chí sẽ đốt xuống cho cậu ta theo cách gửi quà cho người đã khuất. Nhưng với điều kiện, còn phải chỉnh đốt lại bản thân, sống cho ra người, như này thì đừng có mơ.”
Hải còn việc phải làm cho Hà, nên dù mẹ có ép hay không anh cũng sẽ lấy lại tinh thần.
Anh gật đầu: “Con hứa.”
Bà Nguyệt mới hài lòng, đem bức tranh ra vườn, hỏi: “Muốn mẹ đốt nó ở đâu?”
Đưa mắt nhìn quanh, Hải dừng lại ở đoạn đường nơi giao nhau của hai căn nhà: “Mẹ đốt ở đó đi.”
Bà Nguyệt khó hiểu: “Sao lại đốt giữa đường?”
“Con muốn Hà mãi nhớ về con đường này, nơi giao nhau giữa hai căn nhà.” Cũng là nơi giao nhau của hai thế giới.
Chiều ý con, bà đốt bức tranh ngay giữa đường. Trời đêm vốn lặng gió vậy mà khi bức tranh cháy hết một cơn gió lạnh lại thổi qua, cuốn tàn tro bay lên không trung tản ra hai bên, luồn vào rừng cây thông trước hai căn nhà.
Cảnh tượng khá quỷ dị, bà Nguyệt hơi sợ, nhưng lòng cũng an tâm hơn hẳn vì đã hủy được sự thật về sự rời đi của Hà. Còn về hai vị Thầy, bà tin họ sẽ mãi giữ bí mật để bảo vệ một con người.
Sau khi đốt tranh xong bà Nguyệt ở lại một đêm với Hải. Sáng hôm sau khi thấy anh chỉnh chu đứng trước mặt mình, bà mới yên tâm rời đi.
Tiễn mẹ xong Hải bắt đầu lên lịch cho một cuộc sống mới. Anh dọn qua căn biệt thự vàng, sống trong chính căn phòng mà Hà từng ở, toàn bộ nội thất trong phòng đều chuyển qua gỗ cây liễu để có thể giữ lại hơi thở của Hà, nên căn phòng đó khá lạnh.
Sau đó anh đi tìm Thầy. Từ sau khi anh về thành phố hỏi chuyện của Hà, Thầy liền theo anh về Đà Lạt, sống gần để tiện giúp đỡ, lần này anh đến tìm Thầy là muốn học cách khắc ấn vào linh hồn, khiến bản thân sau này có chết cũng không quên Hà.
Chuyện này trái với quy luật tự nhiên, nhưng thầy vẫn giúp anh với điều kiện, công đức của anh phải dày.
Từ đó Hải bắt đầu làm từ thiện khắp nơi, không có trận lũ lụt nào mà không có mặt anh, ngoài để tên mình anh còn để tên của Hà, mong tích đức cho cậu.
Không chỉ ủng hộ đồng bào khó khăn, anh còn thành lập các quỹ học bổng, giúp đỡ vô số học sinh nghèo. Xây dựng trường học, đầu tư vào các hạng mục đem đến lợi ích cao cho xã hội.
Mỗi ngày của Hải dần trở nên phong phú, làm việc, gặp Thầy, học vẽ tranh, theo dõi các quỹ học bổng… Bận là thế nhưng mỗi tháng anh vẫn dành ra bốn ngày để về Đà Nẵng thăm mộ Hà.
Lần đầu tiên gặp gia đình Hà, Hải dùng thân phận con trai của bạn đồng nghiệp đến từ Sài Gòn, nhận ủy thác của cha về thắp hương cho Hà.
Nghe vậy cha mẹ Hà rất vui, họ chào đón anh nồng nhiệt vô cùng. Hoàn cảnh gia đình Hà giờ đây khá giả hơn rất nhiều, anh chị em đều có gia đình riêng, ông bà tuy lớn tuổi nhưng cuộc sống an nhàn, con cháu bên cạnh ngày đêm nên cũng không bất hạnh, chỉ là khi nhắc đến Hà, hai mắt họ vẫn đỏ hoe.
Nguyên nhân có lẽ là do cái chết quá thảm thương của Hà.
Theo lời kể của hai ông bà, Hải mới biết, năm đó khi người ta phát hiện ra xác Hà đã qua một thời gian, cơ thể bước vào giai đoạn phân hủy, không thể chuyển về cho gia đình theo cách bình thường, buộc phải thiêu. Khi Hà về nhà chỉ còn một hũ tro cốt.
Lần đầu nghe được chuyện đó, Hải phải gắng lắm mới không rơi nước mắt trước mặt hai ông bà. Anh nhìn bức ảnh trên bia mộ của cậu. Từ lúc họ gặp nhau, Hải chưa từng nhìn thấy Hà buồn bao giờ, kể cả bức hình trên bia mộ kia cũng thế, cậu luôn cười tỏa nắng như vậy.
Nhớ lời Hà dặn, Hải nhìn ngôi mộ không một cọng cỏ xin phép hai ông bà nhà họ Hoàng cho mình được trồng hoa trên mộ cậu.
Họ cũng không làm khó, đồng ý để Hải làm. Trong vòng một năm ngôi mộ của Hà trở nên nổi tiếng vì hoa cẩm tú cầu và xuyến chi nở quá đẹp, thậm chí người ta còn lén chụp hình mộ cậu đăng lên mạng xã hội, tạo thành trào lưu trồng hoa bên mộ một thời gian dài.
…
Từ ngày trở về thành phố, bà Nguyệt vẫn không yên tâm về Hải, bàn lén thuê người theo dõi Hải, phát hiện những việc làm của anh. Bà thở dài, nói với cô Na: “Kiếp này có lẽ tôi sẽ không được bế cháu của nó.”
Cô Na khuyên nhủ: “Chỉ cần cậu ấy cảm thấy hạnh phúc là được.”
Bà Nguyệt cầm lấy chuỗi tràng hạt, thành khẩn cầu xin: “Mong kiếp sau nó sẽ hạnh phúc, viên mãn bên người nó yên đừng sống thế này nữa, quá đau khổ.”
Năm Hải tròn 85 tuổi, anh qua đời vì tuổi già trong căn phòng mà Hà từng ở nơi biệt thự vàng. Lúc người thân bên cạnh nhìn mặt anh trước khi đóng nắp quan tài, họ thấy khóe môi anh cong lên, tạo thành nụ cười mãn nguyện.
Ai cũng hoảng hốt tưởng rằng Hải chết giả, nhưng được đệ tử của Thầy đã gửi Hải vòng tay nhắc: “Ông Hải đi rồi, nhưng vì quá vui nên mới cười.”
Hết.
Quỳnh Anh, ngày 02 tháng 12 năm 2025.