Tám giờ tối ở xóm Lưới, không gian như trùm lên một tấm màn nhung đen thẫm sực nức mùi hoa cau rụng bến sông. Khi ngọn đèn dầu hột vịt trong gian nhà lá được vặn nhỏ, cõi bờ cù lao chỉ còn lại tiếng muỗi vo ve ngoài vách mùng và tiếng sóng vỗ oàm oạp vào những rễ dừa nước dưới chân đê. Đó là thời điểm những người già xứ nầy bắt đầu tìm về với khoảng trời riêng của họ, một khoảng trời được dệt bằng những âm điệu tri âm rỉ rả.
Triết nằm trên chiếc giường tre sát hiên nhà nội, hai tay gối sau đầu gáy ba phân mới hớt, mắt đăm đăm nhìn qua kẽ lá dừa thấy những ngôi sao đêm lấp lánh. Bỗng nhiên, từ gian nhà trên của nội, một âm thanh trầm đục, tơ nỉ non cất lên, xé toạc cái tĩnh mịch của màn đêm.
Từng… tưng… tịch… tùng… tang…
Đó là tiếng đàn kìm của ông năm “Thợ Bạc” bên hàng xóm khảy lên. Ông Năm có ngón đàn kìm thuộc hàng thượng thừa ở cái cù lao nầy, chiếc đàn cổ thùng tròn như mặt trăng, mặt gỗ ngô đồng lên nước đen bóng. Cứ hễ đêm nào gió chướng về lạnh lạnh gối chân, ông lại ôm đàn sang nhà nội Triết, ngồi xếp bằng trên bộ ván gõ, củi một bếp un muỗi bằng vỏ dừa khô để khảy vài bản tổ oán, nam ai.
Bên ánh lửa lập lòe từ đống un muỗi, bà nội Triết ngồi tựa lưng vào chiếc cột cái bằng gỗ căm xe. Nội năm này đã ngoài bảy mươi, mái tóc bạc phơ như bông bần chín được búi gọn sau gáy, gương mặt hằn sâu những vết chân chim của một đời tảo tần qua hai cuộc chiến tranh.
Nội khẽ đưa tay quẹt ngang khóe miệng dính đầy nước trầu đỏ thẫm, miệng bỏm bẻm nhai miếng cau khô quyện với lá trầu xanh phết chút vôi nồng. Tay nội cầm chiếc radio cassette hiệu Sony cũ kỹ, thứ tài sản quý giá nhất mà chú Hai bên thành phố gửi về biếu nội, gạt nhẹ cái nút rờ-le.
Từ trong chiếc loa bọc lưới sắt bám đầy bụi phấn, giọng ca sầu thảm, nghẹn ngào của cố nghệ sĩ nhân dân Phùng Há trong vở cải lương kinh điển Đời cô Lựu cất lên, hòa quyện một cách hoàn hảo với tiếng đàn kìm rỉ rả của ông Năm.
“Hội đồng Thăng ơi… Ông cướp của, cướp đất, cướp cả đứa con đứt ruột của tôi… Giờ ông còn muốn dồn mẹ con tôi vào đường cùng nầy nữa sao…?” Lời ca như từng nhát dao cứa vào lòng người nghe, ai oán và đau đớn tột cùng. Triết nằm bên ngoài, khẽ quay mặt nhìn vào trong nhà qua khe cửa liếp. Dưới ánh sáng tù mù của ngọn đèn dầu, anh bàng hoàng nhận ra hai hàng nước mắt trong vắt đang từ từ lăn dài trên đôi gò má rám nắng đầy nếp nhăn của bà nội.
Nội không khóc thành tiếng. Cụ chỉ im lặng, đôi mắt mờ đục nhìn vô định vào khoảng không gian tối mịt ngoài sân, tay run run đưa vạt áo bà ba sờn vai lên chậm nước mắt. Mỗi lần tiếng đàn kìm của ông Năm nhấn một nốt “tịch” sâu hoắm, lòng nội lại thắt lại, miếng trầu trong miệng như nghẹn lại không thể nuốt trôi.
Linh hồn ba mươi tuổi của một gã kỹ sư công nghệ năm 2026 nhìn cảnh tượng đó mà lòng dâng lên một nỗi xót xa, thương cảm mãnh liệt. Ở thời tương lai đầy rẫy những phương tiện giải trí tối tân, người ta nghe nhạc số hi-res bằng tai nghe chống ồn, xem phim rạp IMAX 3D bom tấn, nhưng làm sao hiểu được cái hồn cốt của người miền Tây xưa cũ.
Cải lương đối với những người như bà nội không đơn thuần là một loại hình nghệ thuật để giải trí qua ngày. Nó là cuốn nhật ký bằng âm nhạc ghi lại tất cả những khổ đau, oan trái và bất công mà thế hệ của nội đã phải cam chịu, đi qua suốt dải đất cù lao sông nước nầy. Nghe cô Lựu khóc vì mất con, mất đất vào tay địa chủ Thăng, nội như nhìn thấy chính cuộc đời mình thời trẻ, cái thời chạy giặc bom rơi đạn lạc, chồng hy sinh ngoài mặt trận, một mình ôm con lội qua những cánh đồng hoang vắng, đói nghèo bủa vây.
Tùng… tang… tịch… tơ…
Tiếng đàn kìm của ông Năm “Thợ Bạc” bỗng chuyển sang nhịp dồn dập, rồi thưa dần, thưa dần rồi dứt hẳn bằng một nốt nhấn lơ lửng giữa chừng. Vở cải lương trên chiếc đài Sony cũng vừa khép lại bằng một tiếng thở dài thườn thượt của nhân vật.
Bà nội Triết hít một hơi thật sâu, quẹt sạch giọt nước mắt còn sót lại nơi khóe mắt, rồi quay sang nhìn ông Năm, giọng khàn khàn vì xúc động: “Anh Năm khảy chữ đờn nầy ác quá. Nghe tới khúc con Lựu gặp lại thằng Luân mà tôi cầm lòng không đặng. Cái xứ mình ngày xưa sao mà khổ cực quá anh Năm ơi…”
Ông Năm “Thợ Bạc” thở dài, đặt chiếc đàn kìm cẩn thận lên bộ ván, tay vuốt ve thùng đàn: “Thì bởi vậy tôi mới nói với chị Ba, cái đời nó bạc như vôi. Nhưng nhờ có mấy câu ca nầy mà người mình mới giữ được cái nghĩa, cái tình qua bao nhiêu giông bão đó chớ.”
Triết không nằm im nữa. Anh thong thả bước vào trong nhà, quả đầu ba phân binh nghiệp vuông vức và chiếc khăn quàng đỏ vẫn vắt ngang thành giường tre. Anh lanh lẹ chạy lại gần bộ ván gõ, trèo lên ngồi chồm hổm bên cạnh bà nội, hai bàn tay nhỏ thó bấu chặt lấy cánh tay đầy đồi mồi của cụ.
“Nội ơi, nội đừng khóc nữa nha nội.” Triết ngước khuôn mặt ngây thơ lên nhìn nội, ánh mắt ngời sáng sự kiên định của một kẻ thấu thị tương lai: “Cái thời của cô Lựu qua lâu rồi nội ơi. Bây giờ có con ở đây rồi, sau nầy con lớn lên con sẽ làm kỹ sư bự thiệt bự, con kiếm thiệt nhiều tiền xây nhà lầu cho nội ngồi, mua tivi màu bự hơn nhà ông Năm cho nội coi cải lương rõ mồn một luôn, không phải nghe đài rè rè nầy nữa đâu nội!”
Bà nội Triết đang sầu não nghe thằng cháu nội chín tuổi nói một tràng “ông cụ non” đầy hứa hẹn, lại còn đòi xây nhà lầu, mua tivi bự hơn nhà ông Năm, bèn phì cười khanh khách. Cụ đưa bàn tay gầy guốc, thơm nồng mùi vôi trầu xoa mạnh lên quả đầu ba phân của anh: “Tổ cha mày thằng quỷ nhỏ! Học hành không lo lo chuyện bao đồng. Nhà lầu tivi gì tao không ham, tao chỉ ham mày học giỏi, ngoan ngoãn cho ba mẹ mày đỡ khổ là tao mừng dữ thần rồi!”
Ông Năm “Thợ Bạc” cũng cười khà khà, vỗ cái chát vào đùi: “Thằng nhỏ nầy có chí khí đó chị Ba! Coi cái tướng nó thắt khăn quàng lệch vai với quả đầu binh nghiệp nầy là biết sau nầy làm nên chuyện lớn rồi!”
Tiếng cười ấm áp của hai người già hòa cùng tiếng cười lém lỉnh của Triết vang lên, xua tan hoàn toàn bầu không khí u uất, sầu thảm của tuồng cải lương vừa rồi. Đống un muỗi ngoài sân vẫn âm ỉ cháy, tỏa ra làn khói trắng thơm mùi củi dừa bảo bọc lấy gian nhà nhỏ.
Triết gục đầu vào lòng bà nội, ngửi mùi trầu cay nồng quen thuộc, lòng dâng lên một niềm bình yên tự tại. Anh biết, tiếng đàn kìm đêm gió chướng và giọt nước mắt của nội chiều nay chính là những sợi dây tơ duyên vô hình bện chặt anh vào mảnh đất xóm Lưới nầy. Vương quốc tuổi thơ năm 2002 của anh, dẫu có nghèo khó, dẫu có thô sơ, nhưng lại chứa đựng những giá trị tinh thần bất diệt mà anh thề sẽ dùng cả cuộc đời nầy để nâng niu, canh giữ.