Cơ yếu tu đạo thủ sách
Chương Ngũ – Cảnh Giới Tu Hành
“Đạo hữu thập tầng, cảnh hữu cửu biến. Tu vi như đăng cấp, tâm pháp như tọa bàn. Không biết bậc thềm, sao cầu được đỉnh?”
– Tổ sư Thương Nguyên Kiếm Tôn
Nhất – Luận về cảnh giới
Tu hành là hành trình kéo dài ngàn vạn năm, mỗi bước tiến đều có dấu ấn riêng biệt trong thiên địa. Mà dấu ấn ấy được các tiền bối gom lại, phân chia, đúc kết thành từng cảnh giới – như bậc thang trên con đường truy cầu trường sinh chi đạo.
Mỗi cảnh giới là một tầng chuyển hóa giữa phàm thể và tiên thể, giữa phàm tâm và đạo tâm. Cảnh giới càng cao, càng gần với thiên đạo, càng xa lìa sinh tử thường tục.
“Người phàm sinh mà hữu hạn, người tu hành sinh mà vô biên.”
Nhị – Cảnh giới tu tiên đại cương
Các đại tông môn khắp Đông Thần Châu đều công nhận một hệ thống tu hành cơ bản, phân thành ngũ đại cảnh:
1. Luyện Khí
2. Trúc Cơ
3. Kim Đan
4. Nguyên Anh
5. Hóa Thần
Sau Hoá Thần, có thể, hóa thân phi thăng, tiến nhập cảnh giới cao hơn– nhưng nơi ấy đã ngoài thế tục, không còn nằm trong quy điển phổ thông.
Phàm kẻ tu đạo, đều mong trường sinh viễn thị, thoát ly trần cấu, chứng đắc thiên đạo. Song đạo lộ dài xa, không thể vượt một bước mà đến; tất phải tuần tự mà tiến, thuận theo thiên địa khí tượng, cảm thông linh vận, mới mong thành tựu.
Tại giới này – Thương Ly – khí vận bạc nhược, quy tắc không trọn, linh vận có hạn. Tuy linh mạch rải rác, tông môn như sao, song hết thảy đều chịu sự ràng buộc của thiên cơ.
Người tu hành, dù thiên tư tuyệt thế, cơ duyên xảo hợp, cũng chỉ có thể tu đến cực hạn là Hóa Thần Cảnh.
Muốn vượt Hóa Thần, tất phải phi thăng – phá toái giới bích, ly khai Thương Ly, nhập vào giới diện cao hơn, nơi linh khí hạo nhiên, quy tắc hoàn chỉnh, pháp tắc vận hành vững chãi hơn mười phần.
Từ xưa đã có tiên điển ghi lại rằng:
“Thương Ly vi giới hạ, pháp đạo như hồ băng. Tu giả như trầm trạo, Hóa Thần vi cực hạn. Dục cầu tiến cảnh, tất phi thăng nhi hậu khả.”
Kẻ nào đạt Hóa Thần viên mãn, đạo cơ tròn đầy, nếu cảm được thiên đạo dẫn dắt, sẽ gặp kỳ tượng như: linh quang che trời, thiên âm động địa, kim lôi phá vân, chính là lúc phi thăng chi kiếp giáng lâm. Vượt qua, mới được bước lên giới diện trung tầng, tiếp tục hành đạo.
Bằng không, vạn kiếp luẩn quẩn, bị đạo lộ đoạn tuyệt nơi Thương Ly, thân thành cô hồn, pháp thành tàn ấn.
Bởi vậy, xưa nay đại tông môn đều truyền dạy rằng:
“Người tu hành, cần biết mệnh giới hữu hạn, đạo tâm vô biên. Biết tiến, biết lùi, biết đợi cơ duyên. Không được vọng tưởng độ thiên, trái ngược thiên cơ, há chẳng phải tự diệt căn nguyên?”
Đến đây, đạo lý tu hành đã tỏ rõ.
Sách này sẽ tiếp tục giảng thuật về các cảnh giới tu tiên, từ Luyện Khí sơ giai, cho đến Hóa Thần cực hạn. Tất cả đều là lộ trình đạo giả phải bước qua, không thể lược bớt.
Người tu hành khởi bước từ Luyện Khí, hấp thụ thiên địa linh khí, luyện hóa thành linh lực tụ tại đan điền, khai mở mạch huyệt, tẩy luyện thân thể. Cảnh giới này chia làm thập trọng, từ sơ giai đến viên mãn.
Khi đạt đến Luyện Khí viên mãn, linh lực trong đan điền đã vô cùng tinh thuần, thậm chí bắt đầu nửa chuyển hóa thành dịch thể, được gọi là bán linh dịch.
Lúc này, thể nội sinh biến, đan điền chấn động, kinh mạch mở rộng, linh lực trùng trùng điệp điệp, đã tiệm cận ngưỡng cực của cảnh giới Luyện Khí. Tu sĩ khi ấy, tuy chưa bước vào Trúc Cơ, song đạo cơ đã sơ thành, chỉ cần một phen bế quan, phối hợp linh dược, kết thành Trúc Cơ Đan Thai, chính là bước vào cảnh giới Trúc Cơ.
Xưa có chép:
“Luyện Khí mười tầng, mỗi tầng như mài gươm; đến tầng mười viên mãn, gươm thành, cần một búa đập vào đá, là sẽ hiện ra lưỡi sắc – ấy chính là Trúc Cơ.”
Bởi vậy, người đạt Luyện Khí viên mãn mà không kịp thời kết cơ, linh lực sẽ tràn đầy mà không có nơi hóa dẫn, dễ sinh tẩu hỏa, hoặc tổn thương đạo cơ. Cũng có người, tuy đến viên mãn, nhưng tâm ý chưa đủ kiên cố, hoặc chưa tìm được Linh Dược Trúc Cơ, nên vẫn tạm dừng ở ngưỡng cửa.
Cho nên mới nói:
“Trúc Cơ bất tại lực, tại tâm chí, tại cơ duyên.”
Khi tu sĩ đột phá cảnh giới Luyện Khí, kết thành Trúc Cơ đan thai, linh lực trong thể nội liền thoát khỏi trạng thái khí, bắt đầu chuyển hóa thành chân nguyên, tức linh lực dịch thể, so với linh lực bình thường tinh thuần hơn gấp mười lần, có thể sinh diệu dụng.
Sách xưa chép rằng:
“Linh khí là gốc, linh lực là dòng, chân nguyên là thủy tinh luyện. Tu sĩ Trúc Cơ, lấy chân nguyên làm đạo cơ, bắt đầu thật sự bước lên con đường tu chân.”
Một tu sĩ Trúc Cơ sơ kỳ, tuy mới nhập môn, nhưng thân mang chân nguyên, đan điền kết định, pháp lực tuôn chảy không đoạn, đủ sánh với mười kẻ Luyện Khí viên mãn. Chưa kể, chân nguyên sinh uy áp, chỉ cần một tia phát ra, cũng đủ khiến hàng Luyện Khí tâm thần chấn động, kinh mạch tắc nghẽn, không cách nào vận chuyển pháp lực.
“Trúc Cơ áp Luyện Khí như sơn trấn thạch, kẻ dưới không thể nhìn thẳng, pháp thuật khó mà phát ra.”
Khi tu sĩ tiến tới Trúc Cơ viên mãn, linh lực trong thể nội đạt tới cực hạn. Lúc ấy, trung tâm đan điền sẽ xuất hiện một điểm sáng như hạt châu, đó là Nguyên Tinh – tinh túy do chân nguyên ngưng tụ mà thành, là dấu hiệu cảnh giới đạt viên mãn, cũng là hạt nhân để trùng kích Kim Đan.
Xưa có tiên tông chép:
“Nguyên tinh sinh nơi đan điền, như tinh hoa tụ tụ, như thai nhi sơ thành. Lợi dụng linh vật làm dẫn, lấy nguyên tinh làm hạch, ngưng tụ, áp súc, vượt kiếp… ấy gọi kết đan.”
Tu sĩ nếu tìm được linh vật hiếm có – linh chi, thiên diệp, chân hỏa, thượng phẩm linh dịch,… lấy đó làm dẫn, kết hợp nguyên tinh, luyện thành Kim Đan thai, sau đó dẫn thiên kiếp giáng xuống, tẩy rửa tạp chất, kết thành Kim Đan, chính thức bước vào trung kỳ chi đạo, đứng vào hàng cường giả trong giới tu chân.
Quá trình kết đan, là từ khí hóa dịch, từ dịch tụ thể, ngưng thành Kim Đan. Kim Đan càng nhỏ, càng sáng, tức áp súc tinh thuần, đạo cơ càng vững chắc. Đó là tượng trưng cho căn cơ, cũng là dấu hiệu của tốc độ thổ nạp linh khí về sau. Đan càng tinh, hấp thu càng nhanh, tu tiến càng vững.
“Kim Đan như nguyệt sáng, như châu minh. Đan nhỏ tất quý, đan to đa rỗng.”
— Ngọc Thanh Đan Kinh
Tuy nhiên, kết đan là đại đạo nghịch thiên, tất gặp thiên uy. Khi đan hình sắp thành, lôi kiếp chín đạo sẽ hàng lâm. Đây gọi là Đan Kiếp, cũng là phép tẩy lễ do Thiên Đạo giáng xuống để rèn luyện thần thân, tôi luyện đạo tâm.
Lôi kiếp không thể hoàn toàn tránh né, bởi nếu né toàn, thiên đạo sẽ nổi giận, lập tức giáng xuống Thiên Phạt, diệt cả hồn lẫn xác. Bởi vậy, tu sĩ độ kiếp tuy có thể bố trí trận pháp, sử dụng pháp khí hộ thân, nhưng toàn bộ đều phải là vật do chính tu sĩ tự luyện hóa, do linh lực bản thân khống chế.
“Ngoại vật cản kiếp, tất chu di. Đồng khí nhập vực, thiên lôi cộng phạt.”
Trong lúc lôi kiếp giáng xuống, tuyệt đối không được để bất kỳ khí tức sinh linh nào khác tiến nhập kiếp vực. Bằng không, Thiên Đạo sẽ nhận định có mưu toan nghịch kiếp, lập tức hóa lôi thành diệt thế, dù Kim Đan sắp thành cũng hóa tro bụi.
Sau khi chín đạo lôi điện hàng lâm, tu sĩ nếu không ngã, thân thể vượt qua cực hạn, linh hồn bất tán, thì Kim Đan kết thành, pháp lực tròn đầy, thần niệm ổn định. Khi ấy, Thiên Đạo cảm ứng, giáng xuống Cam Lâm Chi Vũ, gọi là Cam Lộ, có thể chữa thương, dưỡng thần, tẩm bổ linh thảo, khiến linh khí nơi đó nồng hậu phi thường, người bên cạnh đều được thụ ích.
“Trải lôi đan thành, thiên giáng cam vũ. Địa linh hồi phục, bách vật thịnh hưng.”
Tu sĩ Kim Đan kỳ, từ đây bước vào hàng trung cấp tu sĩ, uy áp tự sinh, thân như thiên sơn trấn đỉnh. Một người Kim Đan, có thể địch trăm Trúc Cơ viên mãn. Thân thể trải lôi tẩy, đã không còn sợ tiểu thương, phàm linh khí bình thường không thể gây tổn hại, chỉ cực phẩm linh khí mới có thể thương được thân thể.
Uy áp Kim Đan, khiến Trúc Cơ cũng phải run rẩy, đứng không vững; Luyện Khí thì trực tiếp quỳ rạp, ngũ thể chạm đất, không dám nghênh mặt.
Tu sĩ Kim Đan, tuổi thọ có thể bát bách tuế, khi hành pháp thì dùng Pháp Bảo, không còn là pháp khí thông thường. Pháp bảo có thể thu vào đan điền, lấy chân nguyên ôn dưỡng, ngày càng linh hoạt, dung hợp với bản tâm.
“Pháp bảo dưỡng đan điền, nhật nhật linh khí tẩm. Tựa như đạo hồn tương nhập, thân khí hợp nhất.”
Kim Đan tu sĩ còn có thể luyện thành Bản Mệnh Pháp Bảo, một vật không thể thay thế, hoàn toàn phù hợp với đạo lộ người tu. Một khi luyện xong, sinh tử tương liên, nếu pháp bảo hủy, thần hồn cũng tổn.
Ngoài ra, Kim Đan tu sĩ đã có thể lăng không hư độ, phi hành bằng chân nguyên, không cần mượn nhờ pháp khí phi hành như Trúc Cơ tu sĩ.
“Chân nguyên hộ thể, thân hành như vân. Kim Đan đạo giả, vãng lai không trung như hạc.”