Có thể đưa hết tiền riêng cho mình, trong lòng Thang Hiển Linh cũng lập tức nghẹn lại, khó chịu không thôi.
Tưởng Vân mắt hoe đỏ, lắp bắp nói:
“Nương xin lỗi con… Hôm qua con nói đúng. Là nương nhu nhược, hèn nhát, không bảo vệ được con. Con còn trẻ, vậy mà bị bà lão nhà họ Hồ kia khóc lóc, om sòm, làm bại hoại thanh danh… Về sau con còn làm sao mà gả ra ngoài cho được…”
Thang Hiển Linh tuy không đồng quan điểm với Tưởng Vân, nhưng lời nói kia y lại nghe hiểu rõ.
Tưởng Vân là mẫu phụ truyền thống, cả đời bị trượng phu quản thúc, tư tưởng căn bản chính là: phải dựa vào nam nhân mới có thể sống yên ổn. Ngũ ca nhi là người giữ tiết, tuổi còn trẻ, mới hơn hai mươi một chút, dù sao sau này cũng phải đi bước nữa. Nay bị nhà họ Hồ làm ầm lên như vậy, danh tiếng bị tổn hại, nên bà mới bị người ta nắm lấy điểm yếu mà đe dọa.
Sau lần hồ nháo ấy, Tưởng Vân càng thêm sợ hãi, rụt rè không dám tự mình quyết định gì nữa, chỉ lo bản thân làm sai sẽ hại đến con.
“Kỳ thật Ngũ ca nhi cũng chưa từng trách nương đâu.” Là y quá phẫn uất bất bình.
Thôi vậy.
“Nương, con lên phố mua vài thứ, cơm sáng để con mang về, con sẽ không tiêu xài bừa bãi đâu.”
“Ừ, được rồi, con đi đi. Trong nhà có nương, cha con tuy ngoài miệng hay la hét, giọng điệu khó nghe, nhưng thực ra ông ấy cũng chẳng dễ dàng gì…”
Thang Hiển Linh không muốn nghe Tưởng Vân tiếp tục ba phải nói đỡ cho ông già, liền cầm lấy tiền, vội vã rời đi.
Con người thật là phức tạp… Ký ức khắc sâu của Ngũ ca nhi vẫn còn in hằn trong thân thể này. Thang Hiển Linh vẫn còn nhớ rõ: khi Ngũ ca nhi còn nhỏ, cha khắc nghiệt, động một chút là đánh mắng, trong nhà thì đại tỷ luôn che chở, thương yêu Ngũ ca nhi. Nhị tỷ, tam tỷ cũng sẽ lén mua đồ ăn ngon cho Ngũ ca nhi. Tưởng Vân thì luôn là người bôi thuốc, ôm Ngũ ca nhi dỗ dành dịu dàng…
Cho nên trước khi chết, Ngũ ca nhi vẫn canh cánh lo cho người nhà, chỉ trách bản thân vô dụng, không bảo vệ được nương, cũng không gánh nổi kỳ vọng của cha.
Thang Hiển Linh vừa đi vừa nghĩ, đoạn xác nhận thêm lần nữa, không khỏi cau mày, lẩm bẩm:
“Ca nhi và nam nhân lớn lên giống nhau y như đúc, cũng chẳng thiếu cái gì cả…”
Không hiểu nổi triều đại này nghĩ cái gì, nhưng y lại hiểu một ít về ẩm thực.
Cửa hàng bên cạnh bay ra mùi thơm khiến Thang Hiển Linh quẳng ngay chuyện “ca nhi” ra sau đầu. Phố này là phố Chính trong thành Phụng Nguyên, ở nơi này gọi là “phường”, dân cư sống trong các ngõ nhỏ gọi là “phường hộ”. Mỗi phường đều có một con phố chính có cửa hàng, ngày thường dân trong phường đều ra đây mua đồ ăn thức dùng.
Chỗ này có đủ cả: tạc sợi, bánh rán đường, màn thầu, canh gà hoành thánh… Cũng có tiệm bán giấm, tương, đường, vải vóc – tiệm nhỏ chen nhau san sát.
Đây đều chỉ là tiệm nhỏ, còn nơi buôn bán thật sự là ở hai chợ lớn, gọi là “nhị thị”, chuyên buôn bán đủ loại hàng hóa. Hàng trong nhị thị phong phú đủ đầy, cái gì hiếm lạ cổ quái đều có. Ngoài ra còn có những quán rượu, quán ăn hai tầng cao cao – tức là những tửu lâu, quán cơm, khách điếm lớn.
Những thứ ấy, chỉ hai nơi kia mới có.
Hẻm Hoa Hòe nằm trong phường Bát Hưng, ở phía tây thành, cách chợ phía tây tương đối gần. Thang Hiển Linh trước tiên đi sang cửa hàng sát vách mua bốn cái bánh bao: hai cái chay, hai cái mặn. Thời điểm này, bánh bao thường được gọi là màn thầu, bởi vì vỏ bánh không nặn thành nếp gấp như thường thấy, chỉ là một khối tròn, bề ngoài trông giống hệt màn thầu.
Chúng được chia thành ba loại:
– Màn thầu nhân thịt,
– Màn thầu nhân rau,
– Và màn thầu thuần bột trắng.
Mỗi cái bánh bao rau giá ba văn hai cái, bánh bao thịt thì hai văn một cái, còn màn thầu trắng là một văn một cái.
Thang Hiển Linh cắn một miếng bánh bao thịt, nhân là thịt dê, không đến mức như một số tiệm cắt xén, ăn một miếng mà chẳng thấy thịt đâu, nhưng thịt cũng không phải thuần thịt, mà trộn thêm củ cải trắng. Ăn vào chỉ thấy dính và thoang thoảng mùi hun khói.
Y cầm bánh bao trở về, nhét vào tay Tưởng Vân:
“Nương ăn chút gì đi, con đi chợ phía tây dạo một vòng, chắc chắn trưa sẽ về kịp ăn cơm.”
Đi ra ngoài chợ phía tây dạo một vòng còn hơn là ở nhà nghe cha Thang mắng chửi?
Y mới không chịu đâu!