Tưởng Vân không có chủ kiến, người ta nói sao thì nghe vậy, cuối cùng cũng mặc cho người thuê xây.
Từ đó về sau, Thang gia không thể ra giếng nước bằng cửa nhỏ được nữa, chỉ có thể vòng ra từ cửa chính phía trước, đi một đoạn xa hơn.
Thang Hiển Linh xách thùng nước, trong lòng nghĩ đến những chuyện liên quan đến Thang gia. Khi Ngũ ca nhi hấp hối, thân thể còn lưu lại một số ký ức, chủ yếu là những chuyện Ngũ ca nhi từng ấn tượng sâu sắc, hoặc khiến y hối hận, không cam lòng. Còn những việc như hàng xóm, người thuê, thì ký ức lại lờ mờ, không rõ ràng.
Những chuyện ấy giờ đây Thang Hiển Linh phải từ từ dò tìm lại.
Y đi qua đoạn phố chính, dọc đường mấy cửa tiệm bên hông nhìn y bằng ánh mắt tò mò, nhưng rất ít ai chủ động bắt chuyện, nhiều lắm cũng chỉ buông một câu:
“Ngũ ca nhi đi gánh nước à?”
Thang Hiển Linh chỉ “Ừ” một tiếng, rồi khẽ gật đầu.
Y cũng chẳng nói gì nhiều, vốn dĩ Ngũ ca nhi trước kia cũng là người ít lời. Thang Hiển Linh thầm nghĩ vậy.
Phía sau lưng, mấy người hàng xóm nhỏ giọng thì thào, ánh mắt nhìn theo y không giấu được xót xa. Lời bàn tán lẫn trong gió chiều, vẫn có thể mơ hồ nghe thấy:
“Thật tội nghiệp, Ngũ ca nhi gầy đến mức gió thổi cũng nghiêng, còn phải gánh nước mỗi ngày… Tiệm của Thang gia còn mở nổi sao?”
“Đến nước giếng còn bị chặn, còn trông mong gì ngao nổi nồi canh Dương Thang nữa? Mà nói chứ, người thuê mới kia cũng quá quắt, chặn lối đi không cho nhà chủ qua lại. Ngũ ca nhi mỗi ngày phải vòng cả con đường lớn mới gánh được nước.”
“Cũng chẳng trách nhà người ta.” Một người khẽ giơ tay làm dấu: “Thuê một nửa sân mà!”
Bà chủ tiệm bánh bao tròn mắt sửng sốt:
“Bốn mươi lăm lượng bạc? Trời đất, cũng quá đắt!”
“Là tiền thuê ba năm.”
“Ta nói rồi mà, vậy thì cũng không tính là nhiều… Có điều, bỏ ra từng ấy tiền thuê một sân nhỏ, tám phần là muốn giữ sân lại cho Vân Nương và Ngũ ca nhi dùng sau này.”
Người thuê đã bỏ ra nhiều bạc như thế, hàng xóm cũng chẳng ai thấy việc họ xây tường chắn lối nước là quá đáng. Dù sao, bỏ tiền ra là có quyền.
…
Còn Thang Hiển Linh, y vẫn chưa hay biết gì chuyện “lưu đất” trong nhà. Nhưng hàng xóm láng giềng thì đã sớm rõ như lòng bàn tay.
Khi tới giếng, thấy có người đang múc nước, y liền lặng lẽ đứng chờ.
Con hẻm này gọi là hẻm Hoa Hòe, chỉ vì bên giếng có một cây hòe lớn, cao vút và cành lá sum sê. Ngõ nhỏ cũng chẳng chật hẹp, tầm ba bốn thước ngang, mấy đứa nhỏ thường chạy vòng quanh gốc hòe nô đùa.
Thang Hiển Linh từng sống trong tận thế, tận mắt chứng kiến không ít cây ăn thịt người, nên trong lòng bản năng có phần cảnh giác với những cây cổ thụ um tùm. Hắn nhìn bọn trẻ con chạy quanh mà không bị gì, mới yên tâm ngẩng đầu nhìn kỹ cây hòe già kia.
Trời chiều chưa hoàn toàn sụp xuống, ánh tà dương còn lưu chút ánh sáng hồng hồng mờ nhạt.
Trên cây, lá non xanh biếc xen lẫn chồi mầm và những đóa hoa trắng nhỏ lấp lánh như ngọc.
“Hoa hòe… hình như ăn được thì phải?” Thang Hiển Linh lẩm bẩm, trong đầu hiện lên một vài hình ảnh mơ hồ. Y nhớ khi còn học đại học, có bạn cùng phòng quê miền Bắc từng kể: “Ông nội tôi mê nhất là món cơm nấu với hoa hòe.”
Một thím đứng gần nghe thấy liền bật cười đáp lời:
“Ngũ ca nhi muốn ăn cơm hoa hòe à? Chờ thêm ít hôm nữa, đợi hoa bung nở, thím hái ít mang sang cho ăn thử.”
Thang Hiển Linh quay sang nhìn bà, trong lòng mơ hồ không nhớ nổi là ai, nhưng vẫn gật đầu lễ phép:
“Dạ, cảm ơn thím. Con đi múc nước đây.”
“Ừ, đi đi.”
Y múc xong nước, trên đường quay về, trong lòng không khỏi nghĩ ngợi:
“Thành Phụng Nguyên cũng có tập tục ăn cơm hòe hoa, chẳng biết có phải cùng một vùng với quê bạn cùng phòng năm xưa không nữa…”
Hôm nay đại tỷ phu bán lương thực, phần nhiều là lúa mì. Nhưng trong nhà lại thường ăn gạo, có vẻ là vùng giao thoa giữa lúa tẻ và lúa mì rồi.
Dương Thang vẫn còn ký ức về món bánh bột, chính là mì phiến nấu nước. Nhà họ Thang làm ăn buôn bán, cũng là dựa vào món này. Đây là món ăn dân dã, điển hình nhất xứ này, nhà nào nhà nấy thường cơm nước đều có. Tuy nhiên, cha Thang có thể bán bánh bột mà gom đủ bạc mua sân, dựng nên cơ nghiệp, có thể thấy Dương Thang nấu mì hẳn là rất ngon.
Thang Hiển Linh hết xô này đến xô khác gánh nước, y trái lại lại ưa việc múc nước – không cần phải ở trong tiểu viện nhà họ Thang, đối mặt ánh mắt của Tưởng Vân. Lúc đi múc nước, một mình một người có thể từ từ ngẫm nghĩ, gom góp manh mối. Ngũ ca nhi vốn là người trầm mặc ít lời, sau lại trải qua một đoạn “hôn sự” chẳng mấy tốt lành, nay càng thêm ít nói. Y cắm đầu làm việc, hàng xóm thấy cũng không cảm thấy y có gì đổi khác.
Ngược lại còn thấy rất tự tại.