Mở mắt, Mơ chán nản nhìn lên trần nhà.
Chiếc xà ngang bên trên dán một lá bùa màu vàng với dòng chữ đỏ đã phai màu. Nghe chủ nhà này nói đó là bùa đuổi ma có từ thời ông cố nội của cô, ông cố phải thỉnh thầy bùa có tiếng tăm bên chợ thị xã về vẽ riêng, linh thiêng lắm, có thể đuổi tà ma trừ bệnh tật.
Mơ cứ ngẩn người nhìn lá bùa như thế, cũng không biết đang nghĩ gì.
Đứa tớ gái từ dưới bếp lẹp bẹp chạy một mạch thẳng đến chỗ Mơ, đứng chần chừ một lát nó mới khoanh tay thưa.
“Dạ thưa cô Tư, cơm nước xong rồi mà chưa thấy cô Tư xuống, bà biểu con lên kêu cô xuống ăn cơm.”
Mơ vẫn nhìn trần không nhúc nhích, đứa tớ gái thấy vậy cũng dè dặt nhìn theo, chẳng có gì lạ.
Nó nghe người ta đồn, cô Tư Mơ con của ông bà Ký đầu óc không giống người bình thường, suy nghĩ cũng khác hẳn “người phàm”. Khác người phàm là người ta nể mặt ông bà mà nói, chứ nói toẹt ra là dân cả cái xã đều nói ông bà Ký làm ăn thất đức, chiếm ruộng công làm của riêng, cho tá điền mướn đất mà tô thuế cắt cổ nên mới bị trời phạt cho con cái trả nghiệp thay.
Con Lựu bặm môi suy nghĩ thấy có lý mà cũng thấy vô lý. Nếu trả nghiệp thì duyên cớ làm sao mà chỉ mỗi cô Tư bị “nghiệp”, còn đâu cậu Hai, cô Ba với cô Út đều ngon lành hết thảy? Vì lẽ đó nên nó thấy tội nghiệp cô Tư lắm.
Nó vẫn khoanh tay từ nãy đến giờ, suy nghĩ miên man trôi tới tận phương nào.
“Rồi đứa nào đi kêu cô Tư bây ăn cơm sao còn chưa xuống nữa?”
Dưới bếp vọng lên tiếng quát nhẹ, đứa tớ gái giật mình, cuống cuồng chộp lấy tay Mơ.
“Lẹ lẹ xuống ăn cơm cô ơi, bà rầy* con chết!”
*Rầy: quở trách, la mắng
Vốn dĩ định bỏ bữa không ăn, nhưng nhìn Lựu đỏ gay cả mặt vì sợ, nhớ lại thân thể ốm yếu của mình, Mơ thở dài một hơi, rồi chậm chạp nhấc người xuống giường.
Thực ra, Mơ là một cô gái đến từ thế kỷ hai mươi mốt.
Mơ cũng không rõ vì sao mình lạc về đây. Chỉ nhớ buổi chiều hôm đó vừa đi làm về, thấy mệt trong người, cơ thể nóng ran, định bụng nằm nghỉ một lát sẽ khỏi. Chẳng biết qua bao lâu, trong cơn mê cô loáng thoáng nghe ai đó nói mình nhiễm phải virus Corona. Hình mơ hồ của những chiếc áo xanh đang giúp cô giành giật sự sống, chốc lát lại đan xen tiếng khóc của một người phụ nữ, tiếng khóc đó mãi đến sau này cô mới biết là của mẹ cô gái này.
Lúc tỉnh lại thì cô đã ở đây, sống lại trong thân xác của cô gái mười lăm tuổi tên Mơ, là con gái thứ của ông bà Ký ở rạch Ông Két. Thời không sai lệch gần trăm năm, đưa cô về miền Nam Việt Nam năm 1928, thời kỳ Pháp Thuộc.
Miền nam Việt Nam thời nhà Nguyễn gồm sáu tỉnh là Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Sau khi bị Pháp xâm lược, triều đình nhà Nguyễn buộc phải lần lượt cắt sáu tỉnh Nam Kỳ cho người Pháp cai trị. Từ đó, Nam Kỳ trở thành thuộc địa, nằm hoàn toàn dưới quyền kiểm soát của Pháp, không còn bất kỳ sự can thiệp nào từ triều đình Huế.
Đến năm 1900, Pháp chính thức chia lại đơn vị hành chính, sáu tỉnh miền Nam được chia thành 20 tỉnh nhỏ và 2 thành phố trực thuộc là Sài Gòn và Chợ Lớn. Tuy vậy, danh xưng “Nam Kỳ Lục Tỉnh” vẫn được nhắc đến như một địa danh không thể thay thế.
Hoặc có lẽ đó cũng là sự hoài niệm cuối cùng của người dân bản xứ cho một vùng đất sắp mất tự do về tay người Pháp.
Lúc mới về đây, ngoài những tư tưởng khác biệt bị xem là “điên dở” kia, thì cuộc sống của Mơ cũng không khác gì với sinh hoạt khi trước.
Hồi mới sống lại, cơ thể này suy nhược thảm thương, cô phải chống chọi với bệnh tật và cố gắng ăn uống dưỡng thân mới giữ được mạng. Cũng may gia cảnh gia đình này thuộc hộ có điều kiện.
Mơ ngồi vào chỗ rồi đảo mắt nhìn, chỗ ngồi của ông Ký trống hoác. Đứa đầy tớ đứng bên xới cơm rồi đưa tận tay, Mơ uể oải chọt đũa không muốn ăn.
Bà Ký tuổi ngoài tứ tuần, mặc một bộ đồ vải phi bóng vàng choé, cái kiểu nhà giàu có mới ăn mặc được như vậy. Bà nhìn Mơ mà lắc đầu thở dài.
Từ hồi con gái khỏi bệnh, bà thấy sao mà thay đổi dữ quá. Ngoại trừ những suy nghĩ lạ lùng bị cho là có vấn đề thì con nhỏ càng ra dáng người lớn hơn. Nó không học đòi phấn son như chúng bạn đồng lứa, mà chăm chăm mấy quyển sách của đứa con gái út, có lúc còn giảng giải cho em.
Một đứa chưa bao giờ đi học, mà dạy cho đứa đi học, thì trên đời bà mới thấy lần đầu.
Tuy cũng có mừng nhưng thấy lo hơn, cứ kì lạ vậy thì làm sao mà gả đi được.
“Tía đi đâu rồi má?”
Cô gái độ mười tám tuổi, cử chỉ từ tốn đang xới cơm, rồi bưng bằng hai tay đưa cơm cho bà Ký.
Cô ba tên Thu, đẹp người đẹp nết. Từ lúc Thu tới tuổi cập kê thì mối mai tới liên tục, nhưng vẫn chưa ưng mối nào. Chỗ tía má ưng thì chị cô không chịu, mà chỗ cô chịu thì tía má lắc đầu chê. Cứ vậy lần khân từ hồi cô mười sáu tuổi đến giờ vẫn chưa có hứa gả cho ai.
Bà Ký lùa cơm vào miệng, rồi gắp thêm miếng dưa leo muối. Dưa muối giòn giòn, nhai mà vui miệng, bà lại gắp thêm hai đũa rồi mới thong thả trả lời.
“Tía mày lên trên tỉnh, làm giấy tờ liệt kê mấy mẫu đất của nhà mình với chính quyền. Làm xong cái đó thì sau này làm di chúc, chia đất đai cho tụi bây cũng dễ.”
Cậu con trai lớn nãy giờ không lên tiếng, nghe mẹ nói vậy thì nhăn mặt.
“Tía ổng làm chuyện không đâu. Tía má còn mạnh khoẻ mà tính chuyện phân chia làm chi?”
Bà Ký đang gắp thêm cá cho đứa con út, nghe vậy thì nhíu mày. Miếng cá rô đồng đang trên đường đáp hạ, thì khựng lại giữa không trung.
“Ổng với tao không lo trước, lỡ xui rủi chết sớm rồi sao? Đất nhà mình gần hai trăm công, không làm di chúc rồi tụi bây giành giật đánh lộn. Chừng đó tao với ổng có đội mồ dậy cũng không kịp mà can ra.”
Nói xong, bà Ký nhìn miếng cá đang gắp dang dở, quên mất định làm gì, thế là bỏ luôn vào miệng nhai. Nhưng chừng còn dạy con xong, bà nuốt vội miếng cá rồi nói tiếp.
“Nhà có mày là con trai, sau này mày cưới vợ thì ở với tía má, một trăm công đất đó coi như của mày với vợ mày, để lo hương hỏa ông bà. Còn lại mấy chục công đất lẻ, thì tao để chia cho ba đứa em mày. Tụi nó có của đem theo, để bên nhà chồng không khinh nhờn.”
Tính bà Ký thẳng thắng, nói năng không kiêng kị. Tuy Thu biết tính mẹ, nhưng nghe vậy cũng phải lên tiếng phân trần.
Thu nói: “Anh em tụi con thương nhau không hết, sao lại làm ra cái chuyện tranh giành đánh nhau? Tía má thấy nhà người ta như vậy, rồi nghĩ tụi con cũng như vậy thì tội cho anh em con.”
“Tao nói là vì tao thấy được cái cảnh này, không có trật đi đâu được. Anh em tụi bây thương nhau thì tao tin, nhưng khi có người ngoài vào, thì cái tình thương này nó lung lắm. Người ta nói “giàu cha giàu mẹ thì ham, giàu anh giàu chị ai làm nấy ăn”. Sau này tụi bây có gia đình riêng, đứa thì nghe vợ thổi gió, đứa thì nghe chồng xếp đặt. Tụi bây nhắm, lúc đó không vì người ngoài mà sinh hiềm khích tranh giành hông?”
Con Lựu đứng cạnh nồi cơm đợi hầu bữa, mà co rúm không dám thở mạnh. Gì chứ nó sợ nhất bà Ký giận, bà mà lên cơn giận thì sẽ “chửi chó đánh mèo”, cuối cùng thì toàn là người ăn kẻ ở trong nhà chịu khổ.
Nó lén nhìn cô Tư. Không biết sao dạo gần đây bà nghe lời cô Tư dữ lắm, nó còn được cô nói đỡ cho mấy lần.
Nhưng Mơ vẫn đang bận rộn lựa xương cá cho đứa em gái nhỏ. Em gái Út mười tuổi, hoạt bát, nhanh lẹ đưa chén nhận cá, còn híp mắt cười với cô.
Có ai lường trước tương lai, cũng đâu ai biết sau này anh em nhà cô có vì tranh giành tài sản mà tổn hại nhau không. Nhưng trước mắt vui được cứ vui vậy.
Hai chị em một góc riêng, vui vẻ ăn cơm, dường như cái chuyện đất đai nhà cửa không can hệ gì đến mình.
…
Dân ở rạch Ông Két cất nhà theo kênh, nhà đều có sàn thật cao để tránh nước ngập mỗi mùa mưa.
Nhưng nhà ông Ký thì được cất trên một gò đất cao, không sợ nước ngập. Nhà ngói đỏ, sân rộng, nhìn bề thế và khang trang không kém ai.
Trong nhà, chính giữa là tủ thờ bằng gỗ. Chếch về bên trái là bộ giường gõ chân cao, mặt bóng loáng. Trước bàn thờ, bộ bàn ghế gỗ sơn nâu đỏ được lau chùi kỹ càng, trông rất bề thế.
Hàng ba được lót bằng gạch tàu, có mái hiên che mát cả dãy hiên trước.
Dưới mái hiên, có bóng người nằm im lìm trên ghế dựa.
Dưới ánh đèn dầu ảo diệu, vẻ mặt của cô gái ấy mang nét thê lương khó tả. Mãi đến khi con muỗi hút no máu đến bay không nổi, cô gái mới giật mình đập một phát, máu vây ra cả ống quần.
Mơ thở dài.
Nếu đã “lỡ” xuyên không thì xuyên về chỗ nào đỡ khổ hơn chút. Mà nghĩ lại, nếu về thời nhà Trần hay nhà Lê Sơ cũng khổ, cuộc sống cực nhọc, luật lệ nghiêm ngặt, phong tục lại nặng nề. Xuyên về thời cận đại cũng không khá hơn, mấy năm gian khổ chống giặc chạy nạn.
Hồi mới về có mấy lần nói ra “tư tưởng tiến bộ” của mấy chục năm sau, nhờ vậy mà hơn một năm nay, cả làng cả xã, mồm năm miệng mười đồn đãi đủ.
Cô mới mười lăm tuổi, cõng cái danh này thì làm sao mà lấy chồng đây?
Ủa, sao tự dưng nghĩ đến chuyện này?
Mơ chợt nhận ra, không biết từ khi nào, cô đã dần hoà tan vào tư tưởng thời đại này.
Cơ thể cô mới là đứa bé gái mười lăm tuổi mà đã nghĩ đến chuyện lập gia đình. Có lẽ vì bà Ký suốt ngày cứ nói, mười bảy tuổi phải lấy chồng.
Như Ba Thu, mới qua mười tám tuổi đã đến thời kỳ “được giá” nhất. Bà mai lui tới hỏi thăm rần rần, cách mấy bữa lại có người tới coi mắt. Lâu dần, Mơ cũng thuộc hết mấy thủ tục đó.
Tự dưng Mơ nghĩ, không lấy chồng cũng không sao. Đời trước, cô là dân văn phòng làm công ăn lương, làm cả đời chưa chắc dư được chục cây vàng. Bây giờ nhà có đất, ông bà Ký lập di chúc mỗi đứa mấy chục công, nếu sống vậy cũng được chớ sao.
Chân lý ngay trước mặt, Mơ chậc lưỡi cảm thán.
“Ế chồng thì có sao? Bà đây có tiền.”
“Ngồi nói khùng điên gì đó, sao không vô ngủ?”
Bà Ký từ nhà chính đi ra, tay cầm quạt giấy phe phẩy đuổi muỗi.
Bà đi ra cửa, ngó về hướng trên chợ huyện rồi lẩm bẩm: “Sao giờ này còn chưa về nữa cà?”
“Má đợi tía hả?”
Bà Ký nhìn một hồi, rồi ngồi xuống cái ghế đẩu cạnh Mơ. Chẳng biết buồn phiền chuyện gì mà bà thở dài sườn sượt, đêm tối đen hun hút, tiếng thở dài nghe càng thê lương hơn.
Mơ nhìn bà Ký, người đàn bà với dáng ngồi phú quý nhưng không tránh được sự mài mòn của thời gian, cái lưng đã hơi cong, nơi khóe mắt cũng nhiều nếp nhăn. Số phận người phụ nữ, lo cho chồng rồi lo cho con, lo tới lui đến bạc cả đầu rồi tiếp tục lo cho cháu. Có chăng phải đến chừng mồ yên mả đẹp rồi mới không lo nữa.
Một năm trước, lúc Mơ vừa tỉnh lại đã nghe tiếng khóc, bà Ký vừa lau tay lau chân cho con gái vừa lau nước mắt. Bà sợ đứa con gái thân thể ốm yếu này không qua khỏi, nên cứ ngồi chầu chực bên giường.
Mơ tỉnh lại làm bà mừng như được vàng, vội khấu tạ trời đất. Nhưng bà không biết, con gái mình đã ra đi trong lần sốt cao đó, tỉnh dậy là một người lạ.
“Nhìn tao làm gì, sao chưa đi ngủ mà ra đây ngồi?”
Mơ cười: “Con ngồi đợi tía với má, lát đi ngủ cũng được.”
Bà Ký nghe vậy cũng không thúc giục nữa, ngóng ra cửa lớn, tiếp tục thở dài.
“Tía của bây giờ này còn chưa về, chắc là gặp đám bạn nhậu trên đó rồi hết biết đường về. Ngủ lại trên chợ huyện thì không sao, sợ là sợ ổng đêm hôm khuya khoắt mà về, rồi không thấy đường lộn cổ té chết.”
Mới vừa hết tháng mười một, nước ngoài đồng dần rút, đất nhô bờ, lúa chín vàng đồng. Tuy vậy mấy vũng nước đọng lại là ổ muỗi lớn, chúng nó sinh con sinh cháu rồi tràn vào khu dân cư tìm con mồi, gặp người hay vật gì cũng không tha.
Mơ với tay lấy cây quạt, quạt một lúc thấy không tác dụng bèn giơ tay đập vài cái sau lưng bà Ký. Càng đánh địch càng hung hãn, chúng nó lập mưu “giương đông kích tây”, thừa dịp Mơ xây hàng rào bảo vệ lưng bà Ký, thì một nhóm khác quay sang tấn công chân cô. Mơ trở tay không kịp bị nó chích cho mấy nốt.
Cô xót xa nói: “Hay má đi ngủ trước đi, giờ này mà tía chưa về chắc ngủ trên đó rồi. Để con ngồi đây chờ, con chưa buồn ngủ.”
Nói thì nói vậy, chứ mắt cô mí trên dán mí dưới rồi.
Nói đoạn, cô kéo bà Ký dậy rồi giục bà đi ngủ. Còn mình thì quay về nằm lại trên ghế dựa, tiếp tục công cuộc đập muỗi nhàm chán.
Mơ nhớ, hôm trước con Út đi học về có mua nhang muỗi, không thơm nhưng dùng được, thế là lật đật chạy đi lấy. Khói ung muỗi bốc lên nghi ngút, Mơ ngồi giữa làn khói trắng, có cảm tưởng như mình là một vị tiên hạ phàm, ảo diệu vô cùng.
Muỗi thấy tiên trong đám khói ho sặc sụa, thế là không nhào vào xin máu nữa.
Trong làn khói trắng nhạt nhòa, Mơ nhìn thấy mình của đời trước, vô lo vô nghĩ mà sống hai mươi lăm năm không thăng không trầm, không có nhiều nuối tiếc. Cô gái nhỏ với gương mặt tròn trĩnh mỉm cười chìm vào giấc ngủ.
…
Nhà ông bà Ký ở miệt trong rạch Ông Két, thuộc vùng đồng bằng mới tỉnh Châu Đốc.
Chỗ này ngày xưa là đất hoang, thú dữ với rắn rết làm ổ đầy cả đồng. Sau có người vào khẩn đất làm ruộng, rồi người nọ truyền người kia, đất đai dần được khai hoang thành vùng đồng bằng trù phú.
Nghe nói, ông cố của Mơ là một trong những người đầu tiên đến đây lập nghiệp. Khi đó, nghèo đến nỗi trên người chỉ mặc dính một bộ quần áo bằng vải thô, còn lại tới mảnh chiếu lót nằm cũng không có.
Đất ở đây nhiễm phèn nặng, khai khẩn xong cũng mọc đầy cỏ dại, trồng cây gì là nhiễm phèn héo đọt cây đó. Lâu dần người ta không trụ nổi cũng bỏ đi hết. Ông cố phần vì con đông, phần vì tiếc công cày cấy mà cố bám trụ, dần cũng có thành tựu.
Sau này, phải đến đời ông nội của Mơ mới xem như có của ăn của để. Đến thời ông Ký thì chỉ sinh ra để hưởng phước. Nhưng cái tâm giàu có giúp người từ thuở đầu, qua bao năm tháng đã bị mài mòn triệt để. Thỉnh thoảng, Mơ nghe người ta nói cô là cái quả báo ông bà Ký phải chịu vì ở ác với đời.
Mơ ngủ quên trên ghế, đến gần sáng mới bị con gà chọi nhốt trước sân gọi dậy, nó gọi khản cả cổ. Nhang ung muỗi đã tắt ngúm từ lâu, chân Mơ cũng bị muỗi đốt thê thảm.
Buổi sáng trời còn âm u, trong không khí mang hơi sương lành lạnh. Mơ định về phòng ngủ thêm chút nữa thì nghe tiếng xôn xao trước cửa.
Mơ mặc thêm áo khoác vào, đang định ra xem thì đứa tớ gái từ ngoài ngõ hớt hải chạy vào. Thấy Mơ đứng trong nhà ngó ra, nó bèn la lớn. Mơ vẫn chưa nghe rõ, đứa tớ gái lại la lớn hơn.
“Ông đi đêm té xuống mương chết rồi! Ông té chết rồi cô Tư ơi!”
Hết chương 1:
— Chú thích —
**Cô Ba, cô Tư: Xưng hô ở miền Nam nói riêng hay miền Tây Nam bộ nói riêng, gọi ai đó theo thứ tự sinh ra thể hiện sự kính trọng. Khác với miền Bắc, người con đầu lòng ở miền Bắc là thứ Cả, thì miền Nam sẽ là thứ Hai (ví dụ cô Hai, cậu Hai), từ đó mà tính xuống, thứ tự chào đời và danh xưng sẽ chênh lệch nhau.
Chà: Chương một hơi dài. Mình rất thích xem bình luận của mọi người, cũng rất là cần bình luận nhận xét, góp ý. Mỗi bình luận hay tương tác với tui đều rất có ý nghĩa. Cảm ơn mọi người đã ghé qua ^^