Sau ba ngày ba đêm chìm trong cơn sốt cao hầm hập, Thẩm Tri Ý cuối cùng cũng mở mắt.
Trần nhà chạm khắc hoa văn kiểu Tây tinh xảo hiện ra trước mắt.
Ánh nắng ban mai xuyên qua lớp rèm ren mỏng, hắt những vệt sáng nhạt lên mép chiếc giường lớn trải nệm lụa mềm mại.
Cô nằm yên trên giường, để mặc cho những ký ức xa lạ và kỳ quặc cuồn cuộn tràn vào trong đầu.
Cô vừa phát hiện ra một sự thật động trời: Bản thân đang sống trong một cuốn tiểu thuyết Dân quốc giả tưởng.
Đáng buồn hơn, cô không phải nữ chính mang hào quang vạn người mê, mà là một nữ phụ pháo hôi làm nền cho câu chuyện tình yêu đầy trắc trở của người khác.
Trong nguyên tác, Thẩm Tri Ý là đại tiểu thư nhà họ Thẩm, xinh đẹp rực rỡ nhưng tính tình kiêu căng, ngu ngốc.
Cô yêu say đắm Lục Cảnh Bân, một thư sinh nghèo rớt mồng tơi nhưng luôn giữ thái độ thanh cao, sĩ diện.
Trớ trêu thay, tên thư sinh đó lại đem lòng yêu Bạch Hân Dinh, cô con gái nuôi được cha cô là Thẩm Sùng Nghĩa nhận về.
Bạch Hân Dinh mang hình tượng dịu dàng, nhẫn nhịn, chịu thương chịu khó, trái ngược hoàn toàn với sự đỏng đảnh của Thẩm Tri Ý.
Vì tranh giành tình cảm của Lục Cảnh Bân, nguyên chủ đã náo loạn cả phủ Thẩm, từ bỏ quyền thừa kế gia tài, làm tổn thương người cha ruột yêu thương mình hết mực.
Cuối cùng, cô bị Lục Cảnh Bân ruồng bỏ không thương tiếc, phải sống cảnh nghèo đói, lang bạt ngoài đường phố Tấn Thành cho đến lúc chết trong bệnh tật.
Còn Bạch Hân Dinh thản nhiên dẫm lên danh tiếng của cô, chiếm trọn vẹn tình yêu của Lục Cảnh Bân, lấy được tiền bạc của nhà họ Thẩm và sống hạnh phúc viên mãn.
Thẩm Tri Ý chậm rãi ngồi dậy, đưa tay xoa nhẹ vầng trán vẫn còn hơi nóng ran.
Cô nhớ lại cái kết cục thê thảm kia, trong lòng không khỏi cảm thấy nực cười.
Tranh giành đàn ông để làm gì?
Một tên thư sinh nghèo đến mức mua giấy bút còn phải tính toán từng hào, dỗ dành vài câu liền muốn phụ nữ dâng cả gia tài cho mình, loại đàn ông đó có gì đáng để thèm khát?
Thẩm Tri Ý tung chăn bước xuống giường.
Cô đi thẳng đến trước chiếc tủ gỗ lim khảm xà cừ đặt ở góc phòng, lục tìm ngăn kéo nhỏ khóa kín bên trong, sau đó lấy ra một xấp tiền giấy phẳng phiu cùng vài đồng bạc, đếm sơ qua.
Năm mươi đồng.
Ở Tấn Thành thời điểm này, tiền tệ lưu hành chia làm xu, hào và đồng.
Một gia đình bình dân chi tiêu dè sẻn cả tháng cũng chỉ tốn chưa tới ba đồng.