Cô ghét nhất là trứng nhỏ, hồi đó nhà đông anh em, năm ngày mới được ăn một quả, gặp trứng nhỏ thì thiệt quá, tức muốn chết, nên lần nào đến lượt mình cô cũng năn nỉ mẹ cho tự chọn, tự hấp lấy.
Cô tò mò hỏi: “Thế trứng gà mình bán được bao nhiêu tiền một cân hả bác?”
“Sáu hào chín một cân, năm ngoái mới tăng giá đấy, trước là sáu hào bảy xu rưỡi thôi. Nhà bác đông người, gà cũng nhiều, tháng nào cũng bán được năm sáu cân trứng, một năm cộng lại cũng gần bằng tiền chia cuối năm rồi.” Bà nói mà đầy tự hào, tự nhận gà nhà mình là nhất đại đội sản xuất, nhà có mấy đứa con, ngày nào cũng chăm gà cẩn thận, vì đây là “gà vàng đẻ trứng vàng” kiếm tiền mà.
Sáu hào chín, trong khi ở thành phố, hợp tác xã bán trứng gà bảy hào tư một cân.
Nói chuyện với nhau, Dương Gia Đồng cũng coi như chính thức quen biết bà Lưu Nhị Phương nuôi gà giỏi. Nghĩ bụng lần sau muốn mua trứng thì tìm nhà bà Lưu, bà ấy nuôi gà khéo, lại nuôi nhiều, chắc cũng ấp trứng, sau này mình muốn nuôi gà thì có chỗ mua gà con rồi.
Đến công xã, mọi người tản ra ai làm việc nấy.
Lúc này, công xã nhìn qua thì nhà cửa không nhiều, lại thấp bé, không so được với trong thành phố, nhưng cái gì cần có cũng đều có cả: quán ăn quốc doanh, hợp tác xã mua bán, bưu điện, trường tiểu học và trung học của công xã, trạm lương thực, trạm y tế, nhà máy… Đủ cả.
Trạm lương thực nằm ở ngoài cùng, ở đó còn có một hàng dài người xếp hàng, xe bò, xe lừa, máy kéo… Đủ loại, chở theo từng chuyến lương thực lớn.
Dương Gia Mai quay sang hỏi em gái: “Chị đi hợp tác xã mua bán trước nhé?”
“Ừ, em còn phải mua kha khá thứ nữa.”
Cô tìm đến quầy vật tư nông nghiệp trước, mua một cái cuốc, một cái liềm, rồi hỏi thử xem có bán hạt giống không. Nhưng thất vọng là ở đây chỉ có mấy loại hạt giống rau củ, lương thực thông thường, hạt giống hoa quả mà cô muốn thì chẳng có.
Mấy loại hạt giống rau củ này, cô còn thấy đổi với người trong đội sản xuất còn tốt hơn, vì ai cũng giữ lại hạt giống từ những cây tốt nhất mỗi năm, chất lượng còn hơn mua ở đây.
Đi ngang qua quầy thực phẩm, trên kệ bày đủ loại bánh như bánh đào, bánh trứng, bánh gạo nếp, còn có cả kẹo bán lẻ, nhìn mà cô suýt không dời nổi chân, cứ ngoái lại nhìn mãi, suýt nữa thì vẹo cả cổ.
Không chỉ hai chị em cô, chỗ này cũng đông nhất, nhất là một đám trẻ con cứ dán mắt nhìn, kiểu như chỉ nhìn thôi cũng đỡ thèm. May mà nhân viên bán hàng ở đây tính tình cũng tốt, không đuổi hay mắng ai cả.
Nhìn thêm mấy lần nữa, hai người đành tiếc nuối rời đi. Ở nhà nước tương, muối và mấy loại gia vị cũng sắp hết, cần mua thêm. Hai chị em mang theo cả chai đựng nước tương, tìm chỗ mua rồi lấy hai cân.
Quầy vải vóc bày đủ loại vải, màu sắc thì không đẹp lắm, nhưng hút mắt nhất vẫn là mấy túi bông trắng tinh, nghĩ đến chuyện làm áo bông hay chăn bông giữ ấm mùa đông mà thèm, tiếc là cô vẫn chưa có phiếu.
Dương Gia Mai kéo em gái đi: “Đừng nhìn nữa, nhìn cũng chẳng được gì đâu. Sang năm chị sẽ được phát một cân phiếu bông, lúc đó mua cũng chưa muộn.”
Dương Gia Đồng ngạc nhiên: “Quê mình cũng được phát phiếu bông à?”
“Không chỉ có phiếu bông đâu, mỗi người còn được phát một trượng ba tấc phiếu vải nữa. Nhưng ở quê thì chỉ có hai loại phiếu này thôi.” Dương Gia Mai lúc nhận cũng bất ngờ, sau đó cô ấy cắn răng lấy một phần tiền ra may cho mình bộ quần áo mới.
“Nhưng chị thấy nhiều người trong đội sản xuất mặc quần áo rách lắm, nghe mấy thím tám chuyện bảo có nhà còn chẳng có quần áo mà mặc, mấy đứa trẻ phải thay nhau mặc chung một bộ.”
“Có phiếu thì có phiếu, nhưng không có tiền mà mua.” Dương Gia Mai giải thích: “Nhiều người nhận được phiếu là đem bán lại cho công nhân trong công xã để lấy tiền. Em không biết đâu, đội sản xuất mình năm nào cũng có nhiều nhà thiếu ăn, nếu không nhờ chính sách nhà nước thì còn chẳng có cơm mà ăn.”
Nghe vậy, Dương Gia Đồng cũng hiểu ra phần nào. Đúng là trong đội có mấy nhà ít lao động, sống rất vất vả. Mà kể cả mấy nhà khá giả trong đội, tiền dư cũng chẳng nhiều, cưới vợ gả chồng, sinh con rồi chi tiêu hàng ngày, cái gì cũng tốn tiền.
Dương Gia Mai vẫn còn lẩm bẩm: “Trong đội sản xuất nhiều nhà tự dệt vải, vải thô vải gai, chất lượng không bằng, kiểu dáng cũng không đẹp, nhưng mặc được, tiết kiệm được bao nhiêu tiền.”
Hợp tác xã mua bán ở đây rộng lắm, có tám gian hàng, sáu gian là cửa hàng bách hóa, còn hai gian là cửa hàng thu mua, phía sau còn có cả xưởng chế biến riêng của hợp tác xã. Nói chung là to, giàu, không trách ai cũng muốn vào hệ thống hợp tác xã làm việc.
Hai chị em ra khỏi khu bách hóa, Dương Gia Đồng kéo chị sang khu thu mua bên cạnh. Trong đó có khá nhiều xã viên đang bán hàng, cô còn thấy mấy người quen, không thấy bà Lưu, chắc bà ấy bán xong rồi.