Đới Anh không đáp, chỉ chuyển hướng câu chuyện: “Huynh trưởng xưa nay vốn sáng suốt quyết đoán, sao lúc này lại hồ đồ đến vậy? Việc giấu ta đi chẳng phải càng khiến Lục gia thêm nghi ngờ sao? Làm thế chẳng khác nào khéo quá hóa vụng.”
Tạ Dung nghe ra ẩn ý trong lời Đới Anh, bèn hỏi: “Theo ý A Anh thì nên làm thế nào?”
Đới Anh mỉm cười, bưng chén trà bên tay lên nhấp một ngụm: “Trước đó cô mẫu đã răn dạy A Anh, A Anh rất thấm thía. Dù sao máu chảy ruột mềm, hai nhà chúng ta vốn là thân thích. Chỉ khi Tạ gia khởi sắc, Đới gia mới có chỗ dựa vững chắc.”
Tạ Dung nhìn đăm đắm vào gương mặt Đới Anh, muốn tìm kiếm chút dấu vết cảm xúc, nhưng rốt cuộc chẳng thu được gì.
“Đây là lời thật lòng của muội?”
“Tất nhiên là thật lòng. A Anh không phải kẻ ghen tuông vặt vãnh, cũng không phải người không hiểu đạo lý. Theo A Anh thấy, ta và huynh trưởng là người trên cùng một con thuyền. Chỉ khi huynh trưởng công thành danh toại, về sau A Anh mới có ngày lành.”
Trong lòng Tạ Dung dấy lên một cảm xúc khó tả, không rõ là vui hay bực.
Xét theo lý, Đới Anh tỏ ra rộng lượng và thấu hiểu như vậy, hắn đáng lẽ phải vui mới phải. Thế nhưng chỉ trong thoáng chốc, hắn chợt nhận ra phản ứng này của nàng không phải điều hắn muốn.
Lẽ ra nàng phải khóc lóc kể lể với hắn, đòi hắn một lời hứa. Và hắn sẽ nhận lời nàng. Dù sao tình ý của hắn dành cho nàng là thật, hai người từ nhỏ đã lớn lên cùng nhau, hắn coi nàng như một phần máu thịt của mình.
Dẫu xa cách mấy năm, hắn vẫn luôn nhớ đến nàng. Hắn từng nói với nàng rằng cả hai sẽ mãi mãi tốt đẹp bên nhau.
Việc đón nàng từ Bình Cốc đến kinh đô cũng là do hắn cất lời với mẫu thân.
“Khó cho muội hiểu chuyện đến vậy.” Trên mặt Tạ Dung như cười mà không cười.
Đới Anh nhận ra sự khác thường của Tạ Dung, khẽ bấm đầu ngón tay, nói lời trái lương tâm: “A Anh không tính toán cái lợi trước mắt, vì điều mong mỏi nhất chính là được bên huynh trưởng lâu dài.”
“Thật chứ?”
Đới Anh gật đầu.
Tâm trạng hụt hẫng của Tạ Dung lúc này mới khá hơn đôi chút: “Muội yên tâm, cưới Lục Uyển Nhi chỉ là vì tiền đồ làm quan, không liên quan đến chuyện khác. Đợi ngày sau ta đứng vững nơi triều đường, nhất định sẽ nâng muội lên làm chính thất.”
Khóe miệng Đới Anh ngậm cười. Lời này nghe thật quen tai, trong lòng nàng lại dấy lên một trận buồn nôn, chỉ muốn Tạ Dung mau chóng rời đi.
“Huynh trưởng không cần phiền lòng. Ngày mai ta sẽ làm theo ý cô mẫu. A Anh chỉ là biểu thân đến nương nhờ Tạ gia, giữa huynh và ta không hề có hôn ước.” Đới Anh dừng một lát, lại nói: “Chỉ cần chúng ta không thừa nhận, chuyện hôn ước ấy sẽ không được tính. Lục gia tự nhiên cũng chẳng còn lời nào để bắt bẻ.”
Tại triều Đại Diễn, hôn ước dân gian thuộc về tư ước. Chỉ khi xảy ra tranh chấp quan phủ mới thụ lý, vốn chỉ ở dạng bị động đăng ký lưu hồ sơ.
Tạ Dung bước đến bên cạnh Đới Anh, cúi người thay nàng vấn lại mấy sợi tóc mai: “Anh nương, muội có tấm lòng này, ta nhất định không phụ muội.”
Đới Anh cố nén vẻ khó chịu, đáp vài câu chuyện phiếm, cuối cùng cũng tiễn được Tạ Dung rời đi.
Lúc này trời không những không quang đãng mà ngược lại càng lúc càng âm u.
Quy Nhạn liếc nhìn sắc mặt nương tử: “Chúng ta còn ra phố không ạ?”
“Đi.” Đới Anh một khắc cũng không muốn ở lại đây. Nếu cứ ở tiếp, nàng sợ mình sẽ rắc một gói thuốc bột xuống giếng, khiến ai nấy đều chẳng sống nổi.
Ngày mai, qua ngày mai là ổn rồi.
Một chiếc xe ngựa từ cửa hông Tạ phủ chạy ra, đi thẳng đến tiệm áo may sẵn.
Đới Anh mua hai bộ y phục. Nàng không muốn lập tức quay về Tạ phủ, vừa khéo đến giờ Ngọ, bèn bảo phu xe đánh xe đến Phúc Hưng lâu.
Thân phận nàng tuy không cao, nhưng túi tiền lại đầy. Chuyện ăn mặc đi lại, nàng chưa từng bạc đãi bản thân.
Phúc Hưng lâu không phải là quán lớn, cũng chẳng phải tửu lâu bậc nhất kinh đô, trên dưới tổng cộng chỉ có hai tầng.
Thế nhưng rượu và thức ăn của nhà này lại đặc biệt ngon. Khẩu vị Đới Anh vốn kén chọn, quen ăn đồ ngon, từ khi đến kinh đô cũng chỉ có đồ ăn ở Phúc Hưng lâu là hợp miệng nàng.
Vừa vào quán, có lẽ vì thời tiết, khách đường tầng một hơi vắng vẻ, lác đác chỉ có hai ba bàn.