“Cấm thuật?” Đỗ Thanh Tiêu khẽ nhíu mày: “Những tà thuật trái với luân thường đạo lý ấy, hủy sạch đi chẳng phải xong sao. Còn tìm chúng làm gì.”
A La mím môi, không lên tiếng.
Mọi người cũng đồng loạt im lặng.
Cuối cùng vẫn là Đông Hương nhỏ giọng đáp: “Nương nương nói… trong sách có ghi chép Vu tộc Phong Vực từng sở hữu thuật hồi sinh.”
Đỗ Thanh Tiêu: “…”
Thuật hồi sinh dùng để hồi sinh ai, không cần nói cũng biết.
“… Đừng nói bậy. La tướng vốn không tin những thuật pháp huyền học, huống chi là cái gọi là thuật hồi sinh nực cười ấy.”
Đâu chỉ là tin hay không tin.
Việc này quả thực đã đến mức điên cuồng.
Đông Hương tủi thân đáp: “Nhưng bệ hạ chẳng phải đã sống lại rồi sao? Hơn nữa… là chính nương nương nói như vậy…”
Nàng còn định nói tiếp thì A La đã vội bịt miệng nàng lại, ra hiệu đừng nói nữa.
Thấy vậy, Đỗ Thanh Tiêu khẽ ho một tiếng.
“Chuyện này để sau hãy bàn. Nếu La tướng muốn giữ lại Phong Vực thì cứ tạm thời giữ lại. Hôm nay gọi các ngươi đến là vì có một việc muốn giao.”
Mọi người lập tức chăm chú lắng nghe.
“Đi tìm cho trẫm một gói mê tình hương. Ngày mai trẫm sẽ đến Giai Nhân Quán bắt Nguyên Khánh.”
Các vệ trưởng vừa nghe liền hiểu ngay ý trong lời nàng, lập tức đưa mắt nhìn nhau.
Xem ra ngày mai ở Giai Nhân Quán sẽ có một màn kịch hay.
“Bệ hạ, vậy chuyện người đã trở về… có cần truyền tin về kinh thành không?”
Đỗ Thanh Tiêu bất giác nhớ lại những lời Đông Hương vừa nói.
Vì cái chết của nàng, La Quân Triều đã khóc đến mức mắt sưng suốt một tháng.
Nàng cảm thấy, dù thế nào đi nữa, chuyện mình sống lại cũng không thể, cũng không nên giấu nàng ấy.
Nghĩ đến đây, ánh mắt Đỗ Thanh Tiêu dịu lại.
“Truyền. Trẫm sẽ tự viết thư, các ngươi thay trẫm đưa về kinh.”
Trong mắt bệ hạ như có làn nước dịu dàng gợn sóng.
Đông Hương nhận ra điều đó, cười híp mắt xen vào: “Vậy chuyện bệ hạ đến Giai Nhân Quán bắt Nguyên Khánh có cần viết luôn vào mật thư không?”
Đỗ Thanh Tiêu: “… Trẫm tự có chừng mực.”
Nhờ Đông Hương nhắc nhở, nàng mới nhớ ra.
Chuyện đến thanh lâu…
Thôi thì đừng nhắc đến nữa.
Nếu La tướng biết được, chắc chắn lại sẽ lạnh mặt mắng nàng không chịu làm việc đàng hoàng, chỉ biết chạy đến thanh lâu ngắm mỹ nhân.
Nghĩ vậy, cơn giận vì Ô Lan lúc nãy cũng dần lắng xuống, đầu óc tỉnh táo hơn đôi chút.
La Quân Triều đã muốn giữ lại Phong Vực, vậy thì nàng sẽ chậm lại một bước. Nhưng điều đó không có nghĩa nàng định bỏ qua cho Ô Lan.
“Còn một việc nữa. Trong vòng một tháng tới, các ngươi hãy giúp trẫm chuẩn bị vài thứ.”
“Trẫm đã làm phiền Phong Vực suốt hai tháng, dù sao cũng phải để lại cho tướng quân Ô Lan một phần đại lễ.” Nàng mỉm cười, nhưng trong đôi mắt phản chiếu chỉ là màn đêm lạnh lẽo nhất.
Phong tục Phong Vực vốn rất phóng khoáng, quan phủ cũng quản lý lỏng lẻo các chốn yên hoa. Không ít quan lớn, quý tộc đều là khách quen của nơi này. Là chốn phong nguyệt lớn nhất U Đô, Giai Nhân Quán càng là điểm dừng chân không thể bỏ qua của khách thập phương mỗi khi đến Phong Vực.
Phú thương Nguyên Khánh cũng là một trong số đó.
Trong câu “Sĩ, nông, công, thương”, thương nhân đứng cuối cùng. Nhưng câu ấy chỉ dành cho những thương nhân bình thường. Còn người như Nguyên Khánh, gia tộc nhiều đời kinh thương, việc làm ăn trải khắp mấy quốc gia, thì ngược lại, ngay cả quan lớn quyền quý cũng muốn tìm cách kết giao.
Bất cứ ai từng tiếp xúc với Nguyên Khánh đều phải kinh ngạc trước tài lực và thế lực của hắn.
Chính vì vậy, thân phận của thương nhân du hành Nguyên Khánh cũng càng thêm thần bí.
Tướng quân phủ đã bắt được không ít tai mắt, nhưng cũng chỉ điều tra ra rằng Nguyên Khánh có qua lại với các mật thám của Đại Giang. Thậm chí, ngay cả dung mạo của hắn bọn họ cũng không biết rõ, chỉ thu được vài lời miêu tả ít ỏi từ miệng tù nhân.
Vì thế, chuyến đi đến Giai Nhân Quán lần này vô cùng quan trọng.
“Theo tin tức nhận được, mỗi lần đến U Đô, Nguyên Khánh đều ghé Giai Nhân Quán gặp tình nhân cũ là Nghê nương. Nghê nương chính là hoa khôi của Giai Nhân Quán. Sau khi bắt người, Tướng quân phủ lập tức phong tỏa nơi này.”
“Bên ngoài chỉ tuyên bố rằng năm ngày sau sẽ mở cửa trở lại. Hôm nay chính là ngày thứ năm, cũng là ngày hằng tháng Nguyên Khánh đến gặp Nghê nương.”
Đây chính là kế dẫn rắn ra khỏi hang.
Trong Giai Nhân Quán, người “nha hoàn” đang giúp Đỗ Thanh Tiêu trang điểm dặn dò nàng: “Một lát nữa, người chính là Nghê nương. Chỉ cần ở đây chờ. Sẽ có người dẫn Nguyên Khánh vào. Phải làm thế nào, người biết rồi chứ.”
Đúng lúc ấy, bên ngoài vang lên tiếng động.
“Nha hoàn” lập tức nói: “Nô tỳ ra ngoài trước.”
Đỗ Thanh Tiêu gật đầu, nhưng thật ra chẳng nghe lọt được bao nhiêu.
Trong gương, người đang đối diện với nàng có đôi mày cong như núi xa, gương mặt được đánh phấn hồng như áng mây chiều. Mái tóc mây cài lệch cây trâm ngọc, giữa trán còn điểm một đóa hoa điền chu sa tinh xảo, càng tôn lên đôi mắt đẹp.
Bộ y phục trên người lại mỏng manh, gợi cảm, để lộ khe ngực thấp thoáng, khiến người nhìn cũng phải đỏ mặt.
Sống từng ấy năm, đây đúng là lần đầu tiên nàng ăn mặc phô trương đến vậy.
Thuở nhỏ, nàng là đích nữ của Thừa tướng, mọi lời nói, cử chỉ đều phải theo khuôn phép, đúng lễ nghi.
Sau khi gả vào hoàng gia, trở thành hoàng tức, nàng càng phải đoan trang, cung kính, không được vượt quá khuôn phép dù chỉ nửa bước.
Đến khi đăng cơ xưng đế thì lại càng không thể ăn mặc như thế.
Có vài phần phong tình. Nhưng quả thực rất đẹp.
Đỗ Thanh Tiêu chợt nhớ đến những lời La Quân Triều từng nói.
“Ngay cả vầng trăng cũng có lúc tròn lúc khuyết. Nếu một đời người mấy chục năm chỉ sống những ngày giống hệt nhau, chẳng phải sẽ quá khô khan, nhàm chán sao.”
“Đợi bệ hạ đi qua thật nhiều nơi, nếm thử nước của trăm sông, người sẽ nhận ra không có dòng nước nào có hương vị giống nhau.”