Buổi tối cả nhà cùng quây quần trên bàn cơm. Mẹ xới cơm, bố nhặc xương của mấy con cá lóc đồng nướng chui của Đông. Khi tắm ra thằng Đông đã lằng nhằng cả buổi vì nó muốn tự tay nướng cá để đãi mẹ và chị Thu nhưng bố đã giành công việc này của nó, nó còn bảo bố muốn tranh công với nó để thể hiện với mẹ.
Náo loạn cả một buổi mới yên ổn ngồi vào bàn cơm. Đông chu mỏ ngồi một bên vẫn còn đang giận dỗi, Hà so đũa và mời cơm bố mẹ. Còn thu thì đang khuấy tô mắm me mà cô làm, đây là công việc mà cô tranh thủ lắm mới giành được từ mẹ. Vừa khuấy cô quay sang hỏi bố.
– Nhà chú Hảo có ai vào ở hả bố, chiều này con nghe tiếng đuổi gà bên đó.
Ông Khải nhặc thịt cá trắng phao bỏ vào chiếc dĩa sạch bên cạnh rồi đáp lời của Thu.
– Là con trai của chú ấy, thằng bé từ Long Xuyên mới chuyển về.
Nhìn ánh mắt nghi hoặc của cặp song sinh bà Xuân đã tiếp lời giải thích:
– Chú Hảo là hàng xóm của nhà mình hồi còn trên Sài Gòn, cũng là chiến hữu của bố các con. Sau giải phóng thì cùng về đây lại làm hàng xóm tiếp, nhưng về không được bao lâu thì chú mất do vết thương cũ hồi còn đi bộ đội tái phá. Viên đạn còn cấm trong đầu không chạy chữa được.
Cả ba chị em chăm chú lắng nghe rồi cùng hít một hơi khí lạnh khi mẹ kể về nguyên nhân chú Hảo mất. Ba chị em đều không thể tưởng tượng được sự tàn khóc của chiến tranh và sự kiên cường của chú Hảo để có thể sống tiếp bao năm trời với viên đạn còn trong đầu của mình. Trong không gian tĩnh lặng của buổi đêm ở vùng quê cùng tiếng râm rang của ếch nhái, giọng bà Xuân vẫn đều đều như đang hồi tưởng lại chuyện xưa:
– Một thời gian sau khi chú Hảo mất thì vợ chú ấy cũng tái giá với một ông chủ người nước ngoài rồi xuất ngoại theo luôn.
Thằng Đông nghe vậy thì lên tiếng:
– Chú Hảo mất do vết thương khi chiến tranh, bộ vợ chú ấy không câm ghét người nước ngoài sao? Mấy đứa bạn con có người thân mất do chiến tranh đều rất câm ghét người nước ngoài. Lúc mấy ông nhà báo nước ngoài xuống trường chụp hình, tụi nó còn lấy đá ném họ nữa mà.
Ông Khải nghe thấy thế thì nhíu mày rồi nghiêm giọng nhắc nhở Đông:
– Con nít thì biết gì về chiến tranh, chỉ giỏi tập tành theo người lớn thôi. Nếu con không khuyên can được bạn mình thì đừng có tập tụ với chúng làm bậy. Bố mà biết thì quất roi con đấy.
Thằng Đông bắt giác thẳng lưng, cũng tập tành nghiêm mặt theo bố lớn tiếng hô:
– Đã rõ thưa đồng chí cán bộ.
Bà Xuân cười xòa dí ngón tay vào trán của nó nhưng ánh mắt không nén nổi sự yêu thương. Nhờ sự dí dởm của Đông trên bàn cơm lại đầy ấp tiếng cười. Từ gốc nhìn của Thu, cô có thể thấy được khóe môi nhếch lên của bố, bàn tay của Hạ đang vỗ nhẹ lên chân của Đông như nhắc nhở cậu phải nghiêm túc nhưng môi lại mím chặc ánh mắt cong cong vì nín cười. Trong mắt cô hình ảnh này trong hạnh phúc biết bao. Giọng bà Xuân vang lên đưa cô khỏi dòng cảm khái.
– Làm hàng xóm với nhau bao nhiêu năm, mẹ cũng biết vợ chú Hảo là người quyết đoán và có suy nghĩ cấp tiến nên khi biết tin cô ấy xuất ngoại mẹ cũng không cảm thấy bết ngờ, kiểu như nó phải như vậy mới là cô ấy. Không mấy ai có được can đảm để bước ra khỏi vùng quê nơi mình quen thuộc để đến một nơi xa lạ đâu, ấy thế mà cô ấy dám xuất ngoại đến một đất nước khác chứ. Mỗi người đều có một suy nghĩ và quyết định khác nhau, đâu thể quy chụp họ theo suy nghĩ của số đông được.
Hạ im lặng suốt cả buổi bổng cất tiếng hỏi.
– Vợ chú Hảo không dắt theo con trai xuất ngoại khi tái hôn sao mẹ?
Bà Xuân kẹp miếng cá vào bánh tráng rồi cuốn rau đưa cho ông Khải xong bà quay sang trả lời Hạ:
– Muốn dắt theo ấy chứ nhưng thằng bé không đi. Nó muốn ở lại chăm sóc cho bà nội tuổi già. Bà đã chăm nó khi ba mẹ nó không ở nhà, nay bà lớn tuổi rồi nó muốn ở lại bầu bạn cùng bà của nó. Âu cũng là người hiếu thảo nên dù không đành lòng vợ chú Hảo cũng phải chấp nhận cho thằng bé ở lại. Vợ chú Hảo đi không bao lâu thì bác hai của thằng bé đón hai bà cháu về Long Xuyên, ở trên đó bệnh viện tốt hơn cũng thuận tiện cho bà khám bệnh. Tuổi trẻ cực khổ, lớn tuổi rồi cơ thể cũng không chịu nổi. Hôm qua dọn về thằng bé có qua chào hỏi thì mới biết bà cụ mất năm ngoái. Tính tình bác hai gái của nó cũng không phải người dễ sống chung, chắc không sống nổi ở đó nên sau 100 ngày của bà là thằng bé chuyển về đây ở.
Dừng lại, bà quay sang nói với chồng mình:
– Thằng bé còn nhỏ anh để mắt bên đó thêm, tới lui hỏi thăm dầu gì cũng tình nghĩa hàng xóm láng giềng. Hoàn cảnh đơn bạc, nhìn thằng bé em thấy thương.
Bà lại nhìn về phía ba chị em rồi dặn dò.
– Rảnh rỗi thì qua tìm anh chơi, thằng bé mới về nên mọi thứ còn lạ lẵm. Đặc biệt là cái Thu, hai đứa bằng tuổi nhau tựu trường nó cũng nhập học. Ở trường nhớ để ý chiếu cố bạn một chút.
Cô nuốt hết miếng thịt cá vào bụng rồi đáp lời mẹ.
– Dạ vâng ạ. Mà cậu ấy tên gì vậy mẹ?
Ông Khải bỗng lên tiếng trả lời thay bà Xuân.
– Nguyễn Hữu Thi, sáng nay bác hai thằng bé dẫn nó lên trên văn phòng của thôn để đăng ký hộ khẩu, làm xong giấy tờ ông ấy cũng về Long Xuyên hẳn. Trông ông ấy khá vội, chỉ gửi gấm vài câu rồi lên xe đi ngay.
– Sau con không có ấn tượng nào về cậu ấy vậy ạ?
Bà Xuân giải đáp thắc mắc cho cô.
– Hồi còn ở Sài Gòn, do vợ chồng chú Hảo khá bận rộn không thể chăm sóc cho con trai được nên gửi về dưới này cho bà nội chăm giúp. Khi giải phóng rồi gia đình mình về đây thì bố và mẹ lại bận công tác đành gửi ba chị em sang nhà cậu mợ ba chăm hộ. Tính ra các con cũng không gặp nhau được mấy lần, không nhớ nổi là đúng rồi.
Ba chị em nghe rồi gật gật đầu, bỗng vang lên tiếng vỗ quần áo “bịch bịch”. Mọi người đưa mắt nhìn Đông, thấy thằng bé với tay lấy chiếc quạt hương bồ rồi vẫy vẫy dưới gầm bàn. Thấy vậy bà Xuân lên tiếng thúc giục.
– Các con ăn nhanh đi, để tí lại bị muỗi đốt đầy người. Ngứa ngái khó chịu không nói, đổ bệnh lại mệt cái thân.
Lời bà Xuân vừa dứt cô nghe tiếng “xẹt xẹt” của hộp quẹt diêm vang lên, ánh lửa phản chiếu chiếc bóng rung rung in trên vách ván gỗ. Chẳng biết ông Khải đã đến kệ bếp từ lúc nào, ông quay lại với mấy chiếc nhan đuổi muỗi trên tay. Ông xua xua tay cho khói tản ra rồi đặt một chiếc dưới gầm bàn, một chiếc sau lưng ba chị em. Khi vòng qua thằng Đông ông tiện tay cầm luôn chiếc quạt hương bồ trên tay nó rồi về ghế ngồi. Tay phải lại tiếp tục cầm đũa gắp cá còn tay trái thì quạt sau lưng bà Xuân, tay cầm đũa có thể dừng lại không ăn nhưng tay cầm quạt thì không một giây phút nào nghỉ ngơi như chỉ sợ ngừng chút thôi thì lũ muỗi sẽ tấn công người phụ nữ của mình. Còn bà Xuân thì tay gắp cá cuốn bánh, ông một cuốn rồi bà một cuốn tiếp tục bữa ăn của mình.
Quá đỗi quen thuộc với sự chăm sóc lẫn nhau của bố mẹ nên lũ trẻ vẫn dửng dưng ăn nốt phần ăn còn lại của mình. Nhưng tay lại lùa cơm nhanh hơn mọi ngày. Mặc dù hiện tại vẫn chưa kéo điện tới nông thôn nhưng ba chị em không muốn tiếp tục làm bóng đèn.