Cẩu Nhu ghé tới nhìn kỹ, thấy bụng con nhạn này phồng to, chính là giống nhạn mẹ đang mang trứng mà mọi người đang lùng sục. Nàng lập tức vỗ tay, lớn tiếng trêu: “Ôi chao, Thượng Quan giáo úy à, con nhạn này chẳng phải đang mang trứng đấy chứ? Hèn chi Lý Đại Lang chết cũng không chịu buông tha!”
Đám công tử thế gia đồng loạt ghìm ngựa, công tử áo tím là người đầu tiên phi trở lại, trừng mắt mắng Lý Đại Lang: “Giỏi cho ngươi đấy, Lý Đại Lang! Ngươi rõ ràng đã bắt được nhạn mẹ rồi mà còn giả vờ ngây ngô, chạy đi mua thêm con khác, bắt bọn ta theo ngươi quay rừng hai ngày vô ích!”
“Phải đó! Ngươi còn định ôm khư khư mà không chia, thật đáng bị tước mất!”
Lý Đại Lang bị nói đến đỏ mặt tía tai, liền cãi lại: “Bát Nương muốn hai con, ta mới có một, sao đủ mà đưa?”
“Không phải ngươi khoe bắn giỏi à? Vậy ngày mai tự đi bắn thêm một con nữa đi, tranh làm gì với bọn ta!”
Lúc ấy, cô nương áo trắng chen ra trước, vừa gấp gáp móc tiền vừa nói với Thượng Quan giáo úy: “Lý Đại Lang trả bao nhiêu? Ta trả gấp đôi!”
“Ta trả gấp ba!”
“Ta trả một trăm lượng!”
Một đám người chen chúc thi nhau vung bạc hai hôm ròng rã vắt kiệt sức dưới gốc cây, mò bụi rậm, chẳng được cái tích sự gì. Nếu không phải vì muốn được Tiêu Bát Nương mỉm cười với mình một cái, thì ai thèm khổ như thế?
Nguyên Trinh giơ tay ngăn lại cảnh tranh cướp tấu hài đó, dưới ánh mắt thèm khát rực lửa của đám người, nàng bảo Thượng Quan giáo úy giao con nhạn sống cho Thác Bạt Sở Hoa.
Nàng rất rõ tuy là Thác Bạt Hoằng cầm con nhạn đến gây chuyện, nhưng nếu vừa nãy không có mũi tên của nàng, thì con nhạn ấy e là đã nằm trong tay Thác Bạt Sở Hoa. Vậy nên, người xứng đáng nhận được con nhạn này, không phải tên vụng về như Hoằng, mà là Sở Hoa.
“Coi như đền bù cho con nhạn vừa rồi.”
Đám công tử không hiểu thâm ý trong lời nàng, chỉ tiếc hùi hụi, rồi lại ào ào chạy tới tranh giành mua lại con nhạn từ tay Thác Bạt Sở Hoa.
Nhưng Thác Bạt Sở Hoa thì hiểu. Nàng ta không để ý đến bàn tay xòe ra đầy bạc của ca ca mình, cũng chẳng để ý đến đám công tử đang níu áo năn nỉ, chỉ bình tĩnh bỏ nhạn vào túi vải mang theo bên mình, rồi quay sang chắp tay với Nguyên Trinh: “Đa tạ.”
Lý Đại Lang vẫn chưa chịu buông tha, còn cố sống cố chết hỏi vặn: “Ngươi là một Khôn Trạch, cần nhạn mẹ làm gì?”
Thác Bạt Sở Hoa xách túi vải lên, hờ hững nói: “Ồn quá, giữ lại để bóp chết cho đỡ phiền.”
Một cơn gió thổi qua, đám công tử lập tức hóa thành đám bù nhìn không mồm, im thin thít.
Mấy tên này cãi nhau như đàn chó tranh ăn trong vương phủ, thật sự là ồn ào đến nhức đầu. Nguyên Trinh chống trán, lần đầu cảm nhận sâu sắc sức công phá của nhan sắc Tiêu Bát Nương, và cả cái mệt mỏi thấm tận xương do bị đám người này hút cạn sinh khí.
“Nàng bắt được nhạn mẹ kia thế nào?”
Thượng Quan giáo úy nhún vai đáp: “Thuộc hạ cưỡi ngựa ngang qua đống rơm, làm bay cả một đàn nhạn. Chỉ có con này không bay nổi, thế là tiện tay nhặt về.”
Đám công tử cùng Thác Bạt Hoằng tức đến xanh mặt họ trèo đèo lội suối, đào hang bắt chim, vắt cả mồ hôi lẫn máu, đến một cọng lông cũng chẳng chạm được. Thế mà người ta chỉ ngồi ngựa đi ngang qua, tiện tay nhặt đại lại được một con.
Nguyên Trinh thấy đã đến lúc tiễn hết lũ ong bướm đi, bèn dứt khoát nói: “Nếu có đống rơm, hẳn là ổ của nhạn, ngươi chỉ đường cho các vị lang quân, cô nương, để họ đi tìm tiếp.”
Nghe vậy, mắt đám người kia đồng loạt sáng rỡ trong ổ đã có một con nhạn mái, biết đâu còn có con thứ hai? Cả đám nhào tới, nghe Thượng Quan giáo úy chỉ đường xong liền hò nhau cưỡi ngựa phóng đi như gió.
Thác Bạt Hoằng cũng không ngoại lệ. Muội muội không cho nhạn, hắn cũng không dám giành, chỉ lặng lẽ dặn nàng về trước, còn mình thì vội vàng lên ngựa, phóng đi trước cả đám thế gia công tử.
Cuối cùng, rừng núi cũng yên tĩnh trở lại.
Có lẽ là do gió thổi, cũng có thể là vì đám công tử thế gia quá ồn ào, Nguyên Trinh chỉ cảm thấy hai bên trán nhức nhối, tâm phổi lại trở nên yếu ớt như tơ liễu.
Cẩu Nhu lo lắng nói: “Đại nương tử chịu gió không được, các ngươi mau đỡ người về xe, chúng ta đến trạm dịch nghỉ tạm!”
Nguyên Trinh mở mắt nhìn quanh, chỉ thấy trong tay đám tử sĩ là vài con thỏ còn đang giãy đạp, còn thứ nàng mong mỏi nhất mật ong thì chẳng thấy tăm hơi.
Thượng Quan giáo úy chủ động lên tiếng: “Đại nương tử, bọn thuộc hạ không tìm thấy mật ong…”
Giọng nàng ta có phần chột dạ, mắt không dám đối diện với Nguyên Trinh.
Sự thật là trước khi xuất phát, Cẩu nữ quan đã dặn rõ ràng yết hầu điện hạ đầy đờm, không được ăn ngọt. Bảo họ chỉ đi dạo một vòng, tuyệt đối không được tìm mật thật. Vì vậy Thượng Quan giáo úy đành tay không quay về.
Điện hạ à, không phải thuộc hạ bất tài, là nữ quan không cho đó!
Không có mật, tức là không có mật thủy. Nguyên Trinh mong chờ đã lâu, cuối cùng vẫn không được thoả mãn khẩu vị, bèn thất vọng đến mức trùm chăn kín đầu, quyết không chịu lên xe.
Thác Bạt Sở Hoa nhẹ nhàng buộc con đại nhạn sau yên, ngồi vững trên ngựa, cúi đầu hất cằm với Nguyên Trinh: “Muốn có mật à? Đi theo ta.”
Nguyên Trinh kéo chăn xuống, mắt sáng rỡ: “Ngươi có mật ong?”
“Lừa ngươi làm gì.” Thác Bạt Sở Hoa đáp:
“Trong rừng này đầy ra, hai hôm trước ta còn lấy được một tảng lớn, đang để ở chùa Cảm Chiêu chỗ hạ trại. Ngươi tặng ta đại nhạn, ta cho ngươi mật ong chúng ta sòng phẳng.”
“Trong rừng mà đầy ra?”
Nguyên Trinh nghi ngờ liếc sang Thượng Quan giáo úy, gọi nàng ta đến tra hỏi: “Các ngươi thật sự không nhìn thấy một chút mật nào sao?”
Thượng Quan giáo úy vốn vụng nói dối, lại chẳng dám đắc tội Cẩu Nhu, đối diện ánh mắt nghiêm khắc của Nguyên Trinh thì như ngồi trên bàn chông, lắp bắp: “Chỉ… chỉ thấy vài con thỏ, ngoài ra thì không có gì cả.”